Ciné Club YDA

Dernier ajout : 12 mai 2013.

Créé en 2008, Yda « contraction de Yeu Dien Anh qui signifie "amour du cinéma" est un ciné-club dédié au cinéma vietnamien ou en rapport avec le Vietnam. Son objet est de présenter des films non disponibles ou difficilement accessibles au public (jusqu’à ce jour, 36 films de fiction courts et longs métrages, 26 documentaires) en les sous-titrant en français et en les accompagnant d’un débat, si possible en présence de leur réalisateur (notamment Dang Nhat Minh, Viet Linh, Vinh Son, Phan Dang Di, Doan Hong Le, Lam Le... ). Les projections - débat ont lieu actuellement tous les deux mois au cinéma La Clef, Paris 5ème. La prochaine séance, qui aura lieu le 18 mai, présentera Ici ou là-bas (Day hay do) de Siu Pham, en présence de la réalisatrice et de l’acteur principal Jean-Luc Mello. Contact : cineclub.yda gmail.com

YDA cineclub.yda gmail.com
8.6 2008 Ái nam, ái nữ (Love man, move woman)
Phim tài liệu của Nguyễn Trinh Thi
2007, 52’, phụ đề tiếng Anh.
Chân dung của thầy đồng Lưu Ngọc Đức và cộng đồng thờ Thánh Mẫu của ông ở Hà Nội. Từ ngàn xưa, đồng cô là hình thức truyền thống để người đồng tính tập hợp và khẳng định mình trong xã hội. Thực tế toàn cầu hóa hôm nay cũng làm cho cuộc sống của họ ít nhiều thay đổi.

Khóc mướn (Pleureuses professionnelles)
Phim tài liệu của Lan Phương
2006, 20’, phụ đề tiếng Anh.
Một nghề lạ ở Việt Nam

5.10 2008 DÒNG MÁU ANH HÙNG (The Rebel)
Phim truyện của Charly Nguyễn
2007, 107’, phụ đề tiếng Anh.
với Johny Trí Nguyễn, Ngô Thanh Vân, Dútin Nguyễn, Nguyễn Chánh Tín
Phim hành động dã sử lấy bối cảnh cuộc khởi nghĩa chống Pháp đầu những năm 1920.

Trong Sáng (Innocence)
Phim ngắn của Lê Minh
2007, 16’, phụ đề tiếng Anh.
Một phim tốt nghiệp ra trường đáng chú ý.

14.3 2009 SỐNG TRONG SỢ HÃI (Vivre dans la peur)
Phim truyện dài của Bùi Thạc Chuyên, 2006
Với : Trần Hữu Phúc, Hạnh Thúy, Ngọc Phượng, Mỹ Uyên.
Câu chuyện xảy ra tại miền Trung sau chiến tranh, ở vùng đất mà ẩn dưới bề mặt khô cằn là hàng ngàn trái mìn. Là lính SàiGòn cũ, với hai vợ và một đàn con, Tải tìm ra cách tồn tại ở đây bằng chính những quả mìn anh lén lút lấy lên khỏi lòng đất. Ngày lại ngày Tải sống trong sợ hãi và sự khoái cảm thoát khỏi tử thần và qua mặt chính quyền.
Kiến Lửa (Fourmis rouges)
phim truyện ngắn của Phạm Hải Anh, 2005.
Kiến lửa là câu chuyện của bé Thảo Linh về một gia đình ba người : Bà nội thèm ăn kiến, mẹ ghét, thấy kiến là giết và Thảo Linh thích chơi kiến. Một ngày, ngôi nhà tràn ngập kiến lửa, mỗi người phải tìm cách ứng xử với nó và khám phá ra “kiến lửa” trong chính mình.
6.6 2009 BẾN KHÔNG CHỒNG
phim truyện của Lưu Trọng Ninh
dựa theo tiểu thuyết của Dương Hướng
2001, 100’, tiếng Việt, phụ đề tiếng Pháp
với Thúy Hà, Minh Châu, Như Quỳnh, Lưu Trọng Ninh
Giải thưởng Hội điện ảnh Việt Nam 2001, Bông sen vàng Liên hoan phim Việt Nam 2001

Giấc mơ là công nhân
phim tài liệu của Trần Phương Thảo
2006, 52’, tiếng Việt, phụ đề tiếng Pháp
Giải thưởng Pierre & Yolande Perrault Liên hoan phim Cinéma du Réel Paris 2007

L’EMBARCADERE DES FEMMES SANS MARI (Ben khong chong)
Fiction de Luu Trong Ninh
d’après le roman éponyme de Duong Huong (éd. de l’Aube)
2001, 100’, v.o. vietnamienne, sous-titrée en français
avec : Thuy Ha, Minh Chau, Nhu Quynh, Luu Trong Ninh
Dans le delta du Fleuve Rouge, un village rassemble des femmes sans mari. L’existence extraordinaire de plusieurs générations de femmes à qui les guerres successives et l’ordre moral ancien mais aussi nouveau ont refusé une vie familiale ordinaire. Un film inédit en France de l’auteur de Pardonne-moi (Hay tha thu cho em) et Jeu d’argent (Canh bac). Lotus d’argent du Festival national du film vietnamien 2001.

- Rêves d’ouvrières (Giac mo la cong nhan)
Documentaire de Tran Phuong Thao
2006, 52’, v.o. vietnamienne, sous-titrée en français.
Des jeunes femmes de la campagne se pressent chaque matin dans la zone industrielle japonaise de Hanoi pour trouver un emploi d’ouvrier. Les espoirs et désillusons du Vietnam d’aujourd’hui vus au travers des yeux de femme. Prix du jeune cinéaste, Festival du Réel, Paris 2007.

- 13.11 2009 Má lên Thành phố
của Trần Thị Cúc Phương, 31’, 2010, phụ đề tiếng Pháp.
Chị Thân sống ở xã Nghĩa Kỳ, Quảng Ngãi. Để chồng con ở quê, chị lên Đà Nẵng làm nghề "ve chai đồng nát". 30 phút phim đưa người xem đi theo người phụ nữ thầm lặng ngày ngày đi từng nhà mua các-tông, ve chai, xoong chảo hư hỏng, bán lại, tối về nhà trọ, những ngày về quê phải lo cho chồng bệnh, con thơ.

Bọn trẻ bây giờ !
của Hoàng Tùng, 23’, 2010, phụ đề tiếng Pháp.
Tuổi trẻ Đà Nẵng qua cuộc sống của một nhóm chơi "pa-tin", cụ thể là Thanh (sinh viên) và bé Anh (học sinh). Đúng hơn, như tên gọi của nó, "Bọn trẻ bây giờ !" cho ta thấy mối quan hệ phức tạp giữa thế hệ cha mẹ và lứa tuổi "teen". Không phải ngẫu nhiên mà hai người phát ngôn của thế hệ cha mẹ là hai bà mẹ.

Người đưa linh
của Trương Vũ Quỳnh, 36’, 2010, phụ đề tiếng Pháp.
Một hiện tượng xã hội - văn hóa mới xuất hiện, và dường như mới chỉ có ở Đà Nẵng - Quảng Nam : nhân vật người đưa linh trong các đám tang, kiêm nhiệm vai trò người khóc mướn, thần linh xua đuổi bọn "thiên cẩu" rình rập moi móc gan ruột người chết, và làm... MC cho toàn bộ đám tang, từ lúc nhập quan cho đến giờ an táng. Bất ngờ hơn nữa, "người đưa linh" trong phim này còn thực hiện được sự hòa hợp hòa giải, ít nhất giữa thế giới của người chết

Maman est partie à la ville (Ma len thanh pho )
de Trần Thị Cúc Phương, 31’, 2010, sous-titres français.
Than, une paysanne de Quang Ngai, s’expatrie à Da Nang et passe la journée à aller de maison en maison, acheter vieux cartons, verreries, ferrailles et les revendre à une boutique de récupération de déchets. Ce qu’elle gagne semble suffire à sa famille, composée d’un mari malade, un garçon dont elle surveille les études, une fille dont elle confie la garde à sa soeur.

Jeunesse ! (Bon tre bay gio !)
de Hoàng Tùng, 23’, 2010, sous-titres français.
Deux jeunes, Thanh et Be-Anh son amoureux et passionnés de skate. Ils vivent de leur passion sans tenir compte des souhaits de leurs parents, un écart de génération très commun dans la société vietnamienne actuelle.

Le passeur des âmes (Nguoi dua linh)
de Trương Vũ Quỳnh, 36’, 2010, sous-titres français.
Dans un village du centre du Vietnam, un fermier est également maître de cérémonie lors de funérailles. Il chante pour accompagner l’âme des morts vers le ciel. Les gens d’ici sont nés de la terre, et lorsqu’ils meurent, ils reviennent à la terre. La mort rapproche ceux qui pendant la guerre n’étaient pas du même côté.

5.12 2009 MÙA LEN TRÂU
Phim truyện của Nguyễn Võ Nguyên Minh
phỏng theo tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam
2004, 102’, phụ đề tiếng Pháp
với Lê Thế Lữ, Nguyễn thị Kiều Trinh, Nguyễn Hữu Thành.
Giải thưởng liên hoan phim Locarno, Amiens, Chicago, Amazonas, Cape Town, Makuhari.
Nam Bộ thời Pháp thuộc. Mỗi khi mùa nước nổi, trâu phải rời vùng nước ngập đến vùng đất cao để có cỏ. Được cha mẹ giao giữ hai con trâu của gia đình, Kìm, 15 tuổi, nhập bọn người len trâu chuyên nghiệp. Một hành trình vật lộn với sông nước, qua đó Kìm trưởng thành, đồng thời thu nhập vào mình cả bụi trần tục.

Đất thuộc về ai
Phim tài liệu của Đoàn Hồng Lê
2009, 50’, phụ đề tiếng Pháp.
Điện Ngọc (huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) là một xã gần thành phố Đà Nẵng. Trong hai cuộc kháng chiến, nó nổi tiếng là xã anh hùng với những chiến công nổi tiếng (như của 10 dũng sĩ Điện Ngọc 1962). Ngày nay, một phấn lớn đất đai của xã bị trưng mua làm khu du lịch cao cấp và sân golf. Người nông dân không còn đất canh tác, phải dời chỗ, hay lâu lâu tìm được công việc nhổ cỏ dại trên sân golf. Cuốn phim ghi lại phản ứng của nông dân Điện Bàn và thái độ của các quan chức địa phương.

GARDIEN DE BUFFLES (Mua len trau)
Fiction de Nguyen Vo Nguyen Minh
inspirée du recueil de nouvelles Huong rung Ca Mau de Son Nam,
2004, 102’, v.o. vietnamienne, sous-titrée en français
Avec : The Lu, Nguyen Thi Kieu Trinh, Nguyen Huu Thanh.
Récompensé aux festivals de Locarno, Amiens, Chicago, Amazonas, Cape Town, Makuhari
Indochine 1940, sous l’occupation française. C’est à Kim que revient la charge de conduire deuxbuffles loin des terres inondées. Seules richesse de sa famille, ces buffles doivent arriver sains et saufs dans les hautes terres. Kim intègre une bande de gardiens de buffles, brigands à leurs heures, et, a travers ce périple dangereux, découvre l’univers de la violence, de l’alcool, du sexe. En même temps, il rencontre l’amitié, l’amour et le bonheur d’être libre.

A qui a appartient la terre ? (Dat thuoc ve ai)
Documentaire de Doan Hong Le
2009, 50’, sous-titres français.
A quelques kilomètres de l’ancienne base américaine Đa Nang, la commune héroïque de Dienn Ngọc, dans la province de Quang Nam, a connu les combats parmi les plus sanglants de la guerre du Vietnam. Aujourd’hui, dans sa politique de modernisation de toute la zone côtière, le gouvernement vietnamien a décidé l’implantation de vastes complexes touristiques qui exproprient un grand nombre de paysans de leurs terres. A Dien Ngoc, les villageois ont dû céder leurs rizières, et des investisseurs américains y ont construit un terrain de golf. Le documentaire relate la réaction des habitants, dont la plupart ont participé à la lutte de libération.

13.3 2010 RỪNG ĐEN
Phim truyện của Vương Đức
2008, 90’, phụ đề tiếng Pháp
với Thạch Kim Long, Kiều Trinh.
Rừng đén là câu chuyện tình lãng mạn, hoang dại nhưng cũng đầy ê chề, đau đớn của đôi trai gái vùng sơn cước. Hoạt vốn sinh ra trong một gia đình mà bố và anh trai đều làm nghề gỗ. Sau khi thay bố đi tù, anh trở về và yêu Vân – lại chính là vợ sắp cưới của cha. Phim khai thác sự đổ vỡ của các giá trị đạo đức xoay quanh bi kịch của một giá đình thợ rừng, với những quan hệ cha con, anh em, trai gái, được bao bọc trong không khí linh thiêng,man dại của rừng đại ngàn.

Cha đã về
Phim tài liệu của Đoàn Gia Mẫn
2004, 41’, phụ đề tiếng Pháp.
Công việc đồng án không đủ sống, rất nhiều nông dân phải ra Hà Nội để bán sức lao động của mính. Ngày nay, họ đứng ở các góc phố để chờ được thuê. Sau một ngày lao động cực nhọc, đa số lại về thôn quê để doàn tụ với vợ con. Những khó khăn và khác biệt đời sống giữa thành thị và nông thôn.

FORET NOIRE (Rung den)
Fiction de Vuong Duc
2008, 90’, v.o. vietnamienne, sous-titrée en français.

Papa est rentré (Cha da ve)
Documentaire de Doan Gia Man
2004, 41’, v.o. vietnamienne sous-titrée en français.
Le travail à la campagne ne suffisant plus, beaucoup de paysans se rendent à Hanoi pour vendre leur force de travail. Journaliers, ils attendent dans les rues de la ville qu’on leur propose une tâche. Après des travaux particulèrement pénibles, certains décident de rentrer à la campagne retrouver femme et enfants. Leur personnage principal, entouré de voisins, nous livre les difficultés et différences de conditions de vie entre la ville et la campagne.

10.4 2010 CHƠI VƠI
Phim truyện dài của Bùi Thạc Chuyên
2009, 101’, phụ đề tiếng Pháp
Kịch bản : Phan Đăng Di
Diễn viên : Đỗ Hải Yến, Phạm Linh Đan, Như Quỳnh, Johnny Trí Nguyễn, Duy Khoa
Giải thưởng Liên hội quốc tế phê bình điện ảnh FIPRESCI, Venise 2009.
Câu chuyện về mối quan hệ phảng phất đồng tính giữa hai bạn gái Duyên, hướng dẫn viên du lịch và Cầm, nhà văn. Diễn biến tình cảm của họ trở nên phức tạp khi Duyên vội đi lấy một người chồng còn ngây thơ. Ghen tuông, Cầm đẩy Duyên vào tay người tình của mình, một gã đàn ông từng trải.

A LA DERIVE (Choi Voi)
Fiction de Bui Thac Chuyen
2009, 101’, v.o. vietnamienne sous-titrée en français
Scénario de Phan Dang Di
Avec Do Hai Yen, Pham Linh Dan, Nhu Quynh, Johnny Tri Nguyen, Duy Khoa
Prix FIPRESCI, Venise 2009.
Histoire autour d’une relation amoureuse entre deux amies, Duyen, guide de voyages, et
Cam, écrivaine. Leurs sentiments deviennent de plus en plus compliqués quand Duyen épouse précipitemment un jeune homme à peine sorti de l’adolescence. Prise de jalousie, Cam pousse Duyen dans les bras de son amant, un homme d’expérience.
17.5 2010 TRĂNG NƠI ĐÁY GIẾNG
Phim truyện của Vinh Sơn
theo truyện ngắn cùng tên của Trần Thùy Mai
2008, 120’, phụ đề tiếng Pháp
Với Hồng Ánh, Hoang Thanh Đề, Hiếu Anh, Lan Phương
Bông sen bạc và Cánh diều bạc điện ảnh Việt Nam, Giải đạo diễn phim châu Á Liên hoan Madrid, Giải nữ diễn viên Liên hoan Dubai.
Hạnh là người đàn bà tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống thờ phụng chồng, sẵn sàng hy sinh tất cả để chồng có con và tiến thân. Đến khi thần tượng và niềm tin sụp đổ, Hạnh quay sang thế giới thần linh để sống với cái bóng của hạnh phúc đã mất.

LA LUNE DANS LE FOND DU PUITS (Trang noi day gieng)
Fiction de Vinh Son
d’après la nouvelle éponyme de Tran Thuy Mai
2008, 120’, v.o. vietnamienne sous-titrée en français
Avec Hong Anh, Hoang Thanh De, Hieu Anh, Lan Phuong
Lotus d’argent et Cerf-volant d’or du cinéma vietnamien, Prix de la réalisation
du film asiatique du festival de Madrid, Prix d’interprétation féminine du festival de Dubai.
Hanh trouve son bonheur dans une vie dédiée complètement à son époux, prête à tous les
sacrifices pour que celui-ci ait un enfant et fasse carrière. Lorsque la foi en son idole
s’effondre, Hanh se réfugie dans le monde des esprits qui lui permet de revivre virtuellement les instants de bonheur disparus.

12.6 2010
ĐỪNG ĐỐT
Phim truyện của ĐẶNG NHẬT MINH
2009, 102’, phụ đề tiếng Pháp
Diễn viên : Minh Hương, Matthews Korchs , Đào Thị Duyên, Michael Jurmus
Bông sen vàng Liên hoan phim quốc gia Việt Nam, Cánh diều vàng Hội điện ảnh Việt Nam, Giải khán giả bình chọn Liên hoan quốc tế Fukuoka.
Câu chuyện về cuốn nhật ký Đặng Thùy Trâm - nữ bác sĩ, hy sinh lúc 28 tuổi ở chiến khu Quảng Ngãi - được Fred Whitehurst - sĩ quan quân báo Hoa Kỳ - lưu giữ suốt 35 năm để cuối cùng trao lại cho gia đình của người nữ chiến sĩ Việt Nam.
Chân Dung Người Hà Nội
Phim tài liệu - Chùm ‘ phim hình’ của nhiều tác giả

NE LE BRULEZ PAS (Dung Dot)
Long métrage de fiction de DANG NHAT MINH
2009, 102’, sous-titres français
Avec : Minh Huong, Matthews Korchs, Dao Thi Duyen, Michael Jurmus
Lotus d’or du Festival du cinéma vietnamiem, Cerf-volant d’or de l’Association des cinéastes vietnamiens, Prix du public du Festival de Fukuoka.
L’histoire du journal de Dang Thuy Tram - femme et médecin, morte en service à 28 ans dans les maquis de Quang Ngai - et que Fred Whitehurst - officier du renseignement militaire américain - conserva pendant 35 années avant de le restituer à la famille de la combattante vietnamienne.
Portraits de Hanoiens
Documentaire - Un bouquet de ‘films photos’

8.1 2011 BI, ĐỪNG SỢ !
Đạo diễn : Phan Đăng Di - 2010, 94’, phụ đề tiếng Pháp
Diễn viên : Nguyễn Thị Kiều Trinh, Hoa Thúy, Nguyễn Hà Phong,
Trần Tiến, Mai Châu, Phan Thành Minh
Giải đạo diễn phim đầu tay, Liên hoan phim Hồng Kông 2010
Giải Hội tác quyền và Hội phát hành độc lập, Semaine de la critique, Liên hoan Cannes 2010.
« Thật ra ba người đàn ông trong phim (Bi, bố Bi, ông nội Bi) chỉ là ba giai đoạn trong cuộc đời của một người đàn ông mà thôi. Một điểm chung của họ là từ bé tới lớn họ đều cần đàn bà. Họ được chăm sóc, vây bọc, yêu thương, rã rời bởi đàn bà, nhưng họ có hiểu đàn bà hay không lại là một câu hỏi khó trả lời. Họ cũng có một điểm chung nữa : luôn có một cái gì đó muốn sở hữu và phải giấu giếm, ngây thơ như Bi là một quả dưa hấu nhỏ. Đơn giản như bố là một cô bồ và bí ẩn như ông nội là một quá khứ đóng kín bao nhiêu năm... Như vậy với những người đàn ông, sự sinh ra, trưởng thành và chết đi của họ phải chăng là sự gia tăng mức độ khó của những câu hỏi mà chưa hẳn họ đã có lời giải đáp. », đó là cách Phan Đăng Di « đọc » cuốn phim cuốn phim của mình. Cách « đọc » khác, là cách « đọc » của bạn, của tôi. Chúng ta sẽ trao đổi, đối sánh trong phần thảo luận về cuốn phim « độc lập » đầu tiên của điện ảnh Việt Nam.

BI, N’AIE PAS PEUR ! (Bi dung so !)
un film de Phan Đăng Di - 2010, 94’, v.o., sous-titres français
avec Nguyen Thi Kieu Trinh, Hoa Thuy, Nguyen Ha Phong,
Trần Tien, Mai Chau, Phan Thanh Minh
Sélection Semaine de la Critique, Festival de Cannes 2010, prix SACD et ACID/CCAS
Prix du meilleur premier film, Festival de Hong Kong 2010.
« Les trois personnes du sexe masculin dans le film (Bi, son père, son grand père) sont en réalité les trois âges d’un seul et même homme. Ce qui leur est commun, c’est qu’ils ont besoin des femmes, ils ont besoin qu’elles s’occupent d’eux, qu’elles les protègent, qu’elles les aiment, qu’elles les épuisent. Mais comprennent-ils les femmes ? Deux autres points communs les relient : ils ont besoin de posséder et ils ont chacun quelque chose à cacher : une pastèque dans le cas de Bi, une maîtresse dans le cas du père, un passé scellé depuis des années dans le cas du grand père. Ainsi, pour les hommes, la naissance, l’âge d’adulte et la mort… tout cela n’est-il pas une succession de questions de plus en plus difficiles, questions dont ils n’ont probablement pas la réponse ? » (Phan Đăng Di, entretien à la Semaine de la critique).

12.3 2011 YxineFF 2010
Thinking of you (Nghĩ về anh) của Vũ Quang Huy
L.o.v.e (T.ì.n.h.y.ê.u) của Vũ Ngọc Phượng
Trên ngọn cây của Bùi Quốc Thắng
The journey unknown (Cuộc hành trình không tên) của Đỗ Đăng Thường
Vườn của Doãn Hoàng Kiên
Đội đá vá đời của Hồ Thanh Tuấn
Mẹ và con của Phan Huyền My
A dream in Hanoi (Một giấc mơ ở Hà Nội) của Gerald Herman
Les cheveux qui poussent à l’envers (Những sợi tóc mọc ngược vào trong) của Trương Quế Chi

Thinking of you (Nghi ve anh) de Vu Quang Huy
L.o.v.e (T.i.n.h.y.e.u) de Vu Ngoc Phuong
Up in the tree (Tren ngon cay) de Bui Quoc Thang
The journey unknown (Cuoc hanh trinh khong ten) de Do Dang Thuong
Le jardin (Vuon) de Doan Hoang Kien –
Life out of a stone (Doi da va doi) de Ho Thanh Tuan –
Mère et filles (Me va con) de Phan Huyen My
A dream in Hanoi (Mot giac mo o Ha Noi) de Gerald Herman –
Les cheveux qui poussent à l’envers (Nhung soi toc moc nguoc) de Truong Que Chi
15.5 2011 Hà Nội - Warszawa
Phim truyện của Katarzyna Klimkiewicz,
Kino Polka TV sản xuất năm 2009, 30’, nói tiếng Việt và Ba Lan, phụ đề tiếng Anh.
Giải đặc biệt của ban giám khảo Liên hoan phim Ba Lan Gdynia 2009,
Giải phim ngắn European Film Academy 2010.
Cuộc hành trình hãi hùng, đầy nhục nhã của cô gái Hà Nội vượt biên vào Ba Lan để đoàn tụ với người yêu. Tới Warszawa, cô được tin người yêu - cũng là nhập cư bất hợp pháp - vừa mới bị bắt…

Thực đơn chủ nhật
Phim truyện của Liesl Nguyễn
theo truyện ngắn cùng tên của Phạm Thị Hoài,
HFF Konrad Wolf sản xuất năm 2010, 24’, nói tiếng Đức và Việt, phụ đề tiếng Pháp.
Phim tốt nghiệp trường điện ảnh Konrad Wolf, giới thiệu ở Liên hoan phim Berlin 2011.
Cuộc sống của cô gái có hai dòng máu Việt và Đức trong một gia đình Việt Nam ở ngoại ô Berlin. Đối diện hằng ngày với các mâu thuẫn về thế hệ và về văn hóa, cô quyết định tập nấu món ăn ngày chủ nhật mà bà ngoại cô yêu thích...

Chuyện học hành thành đạt trong cộng đồng người Việt
Phim phóng sự của Đào Linh Lan
thực hiện năm 2010, 13’, nói tiếng Pháp, phụ đề tiếng Việt.
Phim tốt nghiệp trường báo chí Sciences Po.
Vì sao người Việt ở nước ngoài chạy theo thành tựu trong học hành và đặt nó ở trên hết ? Một số thanh niên thuộc thế hệ thứ hai ở Pháp thử lý giải câu hỏi đó…

Hanoi - Warszawa
Fiction de Katarzyna Klimkiewicz
Kino Polka TV 2009, 30’, VO en vietnamien et polonais, sous-titrée en anglais
Prix spécial du jury du festival du film polonais Gdynia 2009,
Prix du court métrage European Film Academy 2010.
Une jeune fille de Hanoi rentre clandestinement en Pologne pour y rejoindre son fiancé et commencer une nouvelle vie. Le voyage se révèle être celui des humiliations et de la violence. Arrivée à Varsovie, elle apprend que son ami, lui aussi sans papiers, vient d’être arrêté…

Sunday Menu
Fiction de Liesl Nguyen,
d’après une nouvelle de Pham Thi Hoai
HFF Konrad Wolf 2010, 24’, VO en allemand et vietnamien, sous-titrée en français
Film de fin d’études de l’école de cinéma Konrad Wolf, présenté au festival de Berlin 2011.
Jeune métisse germano-vietnamienne, elle vit dans la banlieue de Berlin avec sa famille vietnamienne. Confrontée quotidiennement aux conflits entre générations et entre cultures, elle décide d‘apprendre à cuisiner le plat préféré du dimanche de sa grand-mère...

La réussite scolaire dans la communauté vietnamienne
Reportage de Dao Linh Lan, 2010, 13’,
VO en français, sous-titrée en vietnamien
Film de fin d’études de l’Ecole de journalisme de Sciences Po.
Qu’est-ce qui fait courir les vietnamiens de la diaspora ? Pourquoi donnent-ils la priorité à la réussite scolaire de leurs enfants ? Des jeunes de la seconde génération en France cherchent à l’expliquer.
25.6 2011 ĐẾ CHẾ TÀN LỤI
phim truyện của Lê Lâm
1983, 105’, nhạc : Nguyễn Thiện Đạo
với Dominique Sanda, Hoàng Lan, Jean-François Stevenin, Thăng Long.
Liên hoan phim Venise 1983.
Hành trình của bức thư tay mà anh du kích Việt Minh gửi cho người vợ đang ở Sài Gòn. Mãi đến ba mươi năm sau - trải qua hết cuộc chiến giành độc lập - tin nhắn mới đến tay người nhận đã lưu lạc tại Paris.

POUSSIERE D’EMPIRE
un film de Lam Lê
1983, 105’, musique de Nguyen Thien Dao
avec Dominique Sanda, Hoang Lan, Jean-François Stevenin, Thang Long
Sélection du Festival de Venise 1983
Intinéaire du message d’un maquisard Viet Minh adressé à son épouse restée à Saigon. Le billet d’amour mettra trente années – celles des guerres d’indépendance du Vietnam – à atteindre sa destinatrice exilée à Paris.

1.10 2011 YxineFF 2011
Dog Day / Thằng chó chết
Fiction de Phan Xinê Linh (Vietnam/USA)
2010, 21’, v.o. vietnamienne, sous-titrée en anglais.
Hung, qui est camionneur, ne tient jamais ses promesses à sa petite amie, à son meilleur ami comme à sa petite fille. Un jour, son camion heurte un enfant. En l’absence de témoins, il décide de ne pas s’arrêter… /
Hùng là một tài xế xe tải thường chẳng bao giờ giữ được lời hứa với bạn gái, với cậu bạn thân hay với chính con gái của mình. Một ngày kia, xe Hùng lái đâm phải một đứa trẻ. Không ai trông thấy tai nạn, và Hùng quyết định lái xe bỏ chạy...

Où va le vent… / Ngọn gió về đâu...
Documentaire de Trịnh Đình Lê Minh (Vietnam/France/Allemagne/USA)
2011, 37’, v.o. vietnamienne, sous-titrée en français.
Luu Ky Phong, originaire du delta du Mékong, poursuit une modeste carrière de chanteur et est profondément pieux. Un couple de vietnamiens de l’étranger l’aide à enregistrer un clip, mais le projet échoue en raison du refus de Phong d’adresser ses prières à quiconque d’autre que le Christ. Il quitte le Sud pour aller se produire dans les campagnes pauvres du Nord où il est présenté comme la ‘star’ de Hochiminh-ville. /
Lưu Kỳ Phong xuất thân từ miền Tây và theo đuổi nghề ca sĩ đi hát ở tỉnh, đồng thời là một con chiên ngoan đạo. Ban đầu anh được một cặp vợ chồng Việt Kiều giúp đỡ thu âm băng nhạc, nhưng rồi vì bất đồng mà việc ra đĩa không thành. Phong bỏ ra Bắc đi hát kiếm tiền tại các xã nghèo và được quảng cáo tôn lên thành ‘ngôi sao’ đến từ thành phố Hồ Chí Minh.

The Fading Light / Theo hướng đèn mà đi
Fiction de Đỗ Thiện (USA/Vietnam)
2010, 23’, v.o. vietnamienne, sous-titrée en anglais.
Nam, vietnamien des Etats-Unis, retourne au Vietnam dans son ancienne maison après tant d’années d’absence. Il est envahi par ses souvenirs d’enfance marquée par la fuite de sa famille à l’étranger… /
Nam, một Việt Kiều Mỹ, quay lại thăm Việt Nam và ngôi nhà xưa sau nhiều năm xa cách. Những ký ức thời thơ ấu về cuộc vượt biên của gia đình hiện về làm anh bối rối.

Morning Songs / Bài ca buổi sáng
Film d’animation de Thi-Von Muong-Hane, Chongkham Phonekeo,
Vilakone Phachanthavong (Laos/France),
2009, 3’, v.o. coquerico, sous-titrée en anglais.
Histoire de coquericos à Vientiane. /
Câu chuyện về những con gà tức nhau tiếng gáy ở Viêng Chăn.

Un interrogatoire / Một cuộc thẩm vấn
Fiction de Nghiêm Trang (République Tchèque /France/Vietnam)
2011, 15’, v.o. française, sous-titrée en anglais
Minh, qui est vietnamienne, vient de se marier avec Alex, un français. Pour obtenir un permis de séjour en France, elle doit passer un interrogatoire de police. Celle-ci voudrait savoir beaucoup de choses : Minh lui raconte la première rencontre avec son futur mari au café, ce qu’ils mettent lorsqu’ils vont au lit, la demande en mariage lors d’une soirée romantique… /
Minh là một cô gái trẻ vừa cưới Alex, một người đàn ông Pháp. Cô phải trải qua cuộc thẩm vấn với cảnh sát để có thể nhận được giấy phép cư trú tại Pháp. Cảnh sát muốn biết nhiều thứ : cô kể lại về lần đầu gặp gỡ giữa hai người ở quán cà phê, về việc họ mặc gì khi đi ngủ, về lần anh cầu hôn với cô trong một buổi tối lãng mạn... Sự thực có đúng là như thế ?

3.12 2011 CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN
phim truyện của Phan Quang Bình
dựa trên tác phẩm cùng tên của Nguyễn Ngọc Tư
2010, 113’, phụ đề tiếng Pháp
với : Hải Yến, Dustin Nguyễn, Tăng Thanh Hà, Lan Ngọc, Võ Thanh Hòa
Ở vùng sông nước miền Tây Nam bộ, một người đàn ông, vì hận vợ đã bỏ nhà đi theo trai, nuôi dạy hai đứa con trong nổi oán đàn bà. Cuộc đời lênh đênh rày đây mai đó củ họ bắt đầu xáo trộn khi một cô điếm bước vào con thuyền của gia đình…

AU FIL DE L’EAU (Canh dong bat tan)
un film Phan Quang Binh
adapté du roman Canh dong bat tan de Nguyen Ngoc Tu
2010, 113’, v.o. vietnamienne, sous-titrée en français
avec : Hai Yen, Dustin Nguyen, Tang Thanh Ha, Lan Ngoc, Vo Thanh Hoa
Entre le ciel et l’eau des immenses plaines du delta du Mékong, un homme et ses enfants mènent une vie errante en marge de la société. Aigri par la trahison de sa femme qui l’a quitté pour suivre un amant, l’homme élève ses deux enfants, une fille et un garçon, dans la haine des femmes. Jusqu’au jour où une prostituée, chassée de la ville, fait irruption dans leur existence…

7.1 2012 ĐỜI CÁT
phim truyện của Nguyễn Thanh Vân, 1999, 90’, phụ đề tiếng Pháp
với : Đơn Dương, Mai Hoa, Hồng Ánh, Công Ninh
Bông sen vàng Liên hoan phim Việt Nam 2001
Sau ngày hòa bình lập lại và đất nước thống nhất, ông Cảnh về thăm quê và gia đình ở vùng cát trắng miền Trung. Gặp lại bà Thoa, người vợ mà ông đã xa cách khi tập kết 20 năm trước đây, ông Cảnh không ngờ bà đã chung thủy chờ ông, mong đợi ngày đoàn tụ. Nhận ra chồng mình đã có một tổ ấm khác, bà Thoa càng khó xử khi người vợ thứ hai và đứa bé gái đến tìm ông Cảnh ở nhà của bà…

MÊ THẢO - THỜI VANG BÓNG [trích đoạn]
phim truyện của Việt Linh, 2002, 100’, phụ đề tiếng Pháp
phỏng theo truyện Chùa Đàn của Nguyễn Tuân
vói : Dũng Nhi, Đơn Dương, Minh Trang, Thúy Nga
Bông hồng vàng Liên hoan Bergamo 2003
« Đời tôi giống như một cây đàn, thà một lần được rung lên, tan nát bởi thanh âm, còn hơn câm nín chờ mục rỉ » (Đơn Dương trong vai Tam, người quản ấp Mê Thảo và là người đánh đàn).

VIES DE SABLE (Doi cat)
fiction de Nguyen Thanh Van, 1999, 90’, VO sous-titrée en français
avec : Don Duong, Mai Hoa, Hong Anh, Cong Ninh
Lotus d’or du Festival du film vietnamien 2001
La paix revenue et le pays réunifié, Canh retourne au Sud dans son village pour voir sa famille. Retrouvant Thoa, sa femme qu’il a quittée lors du regroupement au Nord il y a vingt ans, Canh n’en revient pas qu’elle ait pu l’attendre durant tout ce temps. Comprenant que son mari avait entre temps fondé un autre foyer, Thoa est d’autant plus dans l’embarras que la seconde femme et sa petite fille viennent retrouver Canh chez elle…

MÊ THAO - Il fut un temps [extrait]
(Mê Thao - thoi vang bong)
fiction de Viet Linh, 2002, 100’, VO sous-titrée en français
d’après le roman Chua Dan de Nguyen Tuan
avec : Dung Nhi, Don Duong, Minh Trang, Thuy Nga
Rose d’or du Festival de Bergamo 2003
« Ma vie est comme un instrument à cordes. Plutôt vibrer une bonne fois et se briser sous les sons que rester muet et pourrir » (Don Duong dans le rôle de Tam, intendant du domaine de Mê Thao et joueur de luth).

24.3 2012 Xẩm đỏ
phim tài liệu của Lương Đình Dũng, 2011, 36’,
tiếng Việt, phụ đề tiếng Pháp
Chân dung ở Yên Mô, Ninh Bình, của nghệ sĩ hát xẩm Hà Thị Cầu, 95 tuổi đời, 80 tuổi nghề, báu vật sống của một di sản dân gian đang bi mai một. Những thăng trầm trong cuộc sống nghệ nhân được bà kể lại bằng những câu hát xẩm ngân lên theo tiếng đàn nhị. Lần đầu tiên, nghề hát đường phố được giới thiệu chân thức như vốn có.

Sơn mài ở châu Á :
từ kỹ thuật đến nghệ thuật
Phim tài liệu của Momoko Seto, 2010, 52’, tiếng Pháp
Lịch sử 9000 năm của kỷ thuật và nghệ thuật sơn mài ở châu Á : từ nhựa cây sơn (Rhus succedanea) cho đến chất liệu sơn mài nhân tạo, từ cái bát Wajima của Nhật Bản đến đồ nội thất bằng sơn mài sản xuất đại trà của Trung Quốc và không quên những bước tranh sơn và mài của Việt Nam, mà các nghệ nhân, nghệ sĩ và các nhà nghiên cứu giới thiệu những khía cạnh độc đáo nhất. Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam, ba phong cách làm sơn mài thể hiện ba bản sắc dân tộc khác nhau...

Xam rouge ou la chanteuse de rue (Xam do)
Film documentaire de Luong Dinh Dung, 2011, 36’,
vo vietnamienne sous-titrée en français.
Portrait de l’artiste chanteuse de rue Ha Thi Cau, 95 ans dont 80 années de métier, considérée comme trésor vivant d’un patrimoine populaire en voie de disparition. Une vie pleine de vicissitudes que Madame Cau raconte par des chansons aux paroles truculentes en s’accompagnant d’une vièle à deux cordes. Un document sur la tradition des chanteurs de rue d’une rare authenticité.

La laque en Asie : de la technique à l’art
Film documentaire de Momoko Seto, 2010, 52’, vo française.
La formidable aventure de la laque, technique d’excellence présente en Asie depuis plus de 9 000 ans. De l’arbre à laque aux laques synthétiques, du bol Wajima du Japon aux meubles laqués à la chaîne en Chine, en passant par le tableau en laque poncée du Vietnam, artisans, artistes et chercheurs font découvrir les diverses facettes de ces objets devenus œuvres d’art.

19.5 2012 HOT BOY NỔI LOẠN
và câu chuyện về thằng Cười, cô gái điếm và con vịt
Phim truyện của Vũ Ngọc Đãng, 2011, 95’, phụ đề tiếng Pháp,
với Lương Mạnh Hải, Hồ Vĩnh Khoa, Phương Thanh, Hiếu Hiền
Bông sen bạc Liên hoan phim Việt Nam 2011,
tham gia các liên hoan phim quốc tế Toronto, Pusan, Berlin.
Một bộ phim với hai câu chuyện tưởng chừng không có liên hệ giữa nhau.
Chuyện của Khôi, cậu thanh niên chân ướt chân ráo lên Sài Gòn lao động kiếm sống,
với chàng trai làm nghề đứng đường bán dâm tên Lam.
Chuyện của thằng Cười khờ khạo và bị câm với cô gái điếm già tên Hạnh.
Bộ phim đồng tính đúng nghĩa và đầu tiên sản xuất ở Việt Nam.

PERDU AU PARADIS
‘Hot boy en révolte et l’histoire de l’Hilare, de la prostituée et du (petit) canard’
Un film de Vu Ngoc Dang, 2011, 95’, v.o. vietnamienne, sous-titrée en français,
avec Luong Manh Hai, Ho Vinh Khoa, Phuong Thanh, Hieu Hien
Lotus d’argent du festival du film vietnamien 2011,
sélectionné aux festivals de Toronto, Pusan, Berlin.
Un film et deux histoires en apparence sans lien entre elles. L’histoire de Khoi, jeune provincial monté à Saigon pour trouver un travail, et de Lam, jeune citadin qui y vit en faisant le tapin. L’histoire de Cuoi, muet et simple d’esprit, et de Hanh, une prostituée âgée.
Premier film homosexuel produit au Vietnam.

16.6 2012 Trong hay ngoài tay em
phim tài liệu của Trần Phương Thảo và Swann Dubus,
2011, 80’, tiếng Việt, phụ đề tiếng Pháp
Giải La planète rouge Liên hoan phim Marseille 2011.
Ở vùng đồi núi Tây Bắc Điện Biên, Thi và Trung sống cuộc đời của những thanh niên nghiện heroin, dương tính với HIV. Nơi họ sống nằm trên tuyến đường luân chuyển thuốc phiện từ Lào sang Trung Quốc. Khi có được trợ giúp từ gia đình, bạn bè và bác sĩ can ngăn họ quay trở lại với ma túy, Thi cảm thấy thực sự muốn cai nghiện, nhưng Trung thì chỉ muốn chết.

Khiêu vũ trong công viên
Phim tài liệu của Michael Douglas và Henry Mochida
2010, 12’, tiếng Việt, phụ đề tiếng Anh.
Công viên Thông Nhất ở Hà Nội lâu nay vẫn là không gian mở cho những ai cần thư giản, tập thể dục hay khiêu vũ. Gần đây, nó phải đối đầu với nguy cơ của một dự án đầu tư sẽ dẫn đến tư nhân hóa một phần không gian công cộng. Phản ứng mạnh của người dân Hà Nội buộc chính quyền rút lại giấy phép cấp cho tập đoàn đầu tư.

Avec ou sans toi
(Trong hay ngoai tay em)
Documentaire de Tran Phuong Thao et Swann Dubus
2011, 80’, v.o. vietnamienne, sous-titrée en français
Prix La planète rouge, Festival de Marseille 2011.
La région montagneuse de Dien Bien Phu est devenue une voie de passage du trafic d’opium entre le Laos et la Chine. Thi et Trung, qui y vivent, sont héroïnomanes et séropositifs. L’un s’accroche à sa femme pour décrocher de la drogue, l’autre s’y refuse au risque de sombrer corps et âme.

Dancing in the park
(Khieu vu trong cong vien)
Documentaire de Michael Douglas et Henry Mochida
2010, 12’, vo vietnamienne, sous-titrée en anglais.
Le parc Thong Nhat (Réunification) à Hanoi est connu pour accueillir ceux qui viennent pratiquer librement la relaxation, la gymnastique ou la danse. Récemment, le parc est devenu la cible de groupes d’investisseurs à la recherche d’espaces publics à privatiser. La mobilisation de la société civile a permis, jusqu’ici, de sauvegarder cet espace social vital pour les hanoiens.

15.9 2012 YxineFF 2012
16 :30
Fiction de Trần Dũng Thanh Huy (Hochiminh-ville, Vietnam)
2012, 17’, v.o. vietnamienne, sous-titrée en anglais.
La course de quatre enfants de la rue à l’heure de la distribution des résultats du loto à Hochiminh-ville. /
Phim 16:30 kể về một buổi chiều chạy đi bán vé dò của bốn đứa trẻ bụi đời.

Ngược dòng / Upstream
Fiction de Lê Hoàng (Hanoi, Vietnam)
2012, 13’, v.o. vietnamienne, sous-titrée en anglais.
Deux lycéens tentent de s’évader de l’internat de leur école où ils se sentent étrangers./ Hai học sinh trung học phổ thông lập kế hoạch trốn thoát khỏi ngôi trường - nơi họ bị coi là những kẻ kì lạ.

Hai chú cháu / Uncle and son
Fiction de Nguyễn Đình Quý Anh (Hochiminh-ville, Vietnam)
2012, 14’, v.o. vietnamienne, sous-titrée en anglais.
Abandonné par ses parents, Hung vit dans le delta du Mékong avec son oncle, un tailleur gay. Il affronte les médisances et la discrimination des villageois sans bien comprendre ce que représente l’homosexualité. /
Hùng là một cậu bé bị cha mẹ bỏ rơi, cậu sống chung với chú ruột của mình từ nhỏ. Chú Ba làm nghề thợ may rất khéo léo và giỏi giang, sống tốt với mọi người chung quanh nhưng luôn bị mọi người kỳ thị vì là người đồng tính.

Les deux vies de Nate Hill / Hai cuộc đời của Nate Hill
Film d’animation de Jeanne Joseph (France - Allemagne), 2012, 1’ .
Deux vies possibles de Nate Hill ou comment le choix nous donne l’illusion de maîtriser notre vie ; et notre mort aussi. /
Hai cuộc đời có thể của Nate Hill hay khả năng nào sẽ dẫn cuộc đời đi theo một hướng hoàn toàn khác mà ta thường không tự quyết định được.

Dawn
Fiction de Leon Le (New York, USA)
2012, 9’, v.o. anglaise, sous-titrée en vietnamien.
Deux afro-américains détroussent un américain d’origine asiatique qui leur demande de lui rendre ses papiers. Le vol vire brusquement à la violence…/
Sau cuộc chạm trán trên tàu điện ngầm, một thanh niên gốc Á bị hai gã da đen chặn cướp. Vụ cướp đi chệch hướng khi một gã nổi cơn thịnh nộ…

Lady Piano
Documentaire de Dạ Thảo Phương (Paris, France)
2011, 11’, v.o. vietnamienne, sous-titrée en anglais.
A 65 ans, elle réalise son rêve d’enfance : jouer au piano./
Một người phụ nữ đã trải qua phần lớn cuộc đời mình trong chiến tranh, đói khổ, đến năm 65 tuổi mới chạm được tay vào cây dương cầm, niềm mơ ước của bà từ thời thơ ấu.

20.10 2012 CHẠM
phim truyện của Nguyễn Đức Minh, 2012, 109’
tiếng Việt - Anh, phụ đề tiếng Pháp và Anh - Việt
với Porter Lynn Dương, John Ruby, Nguyễn Long
Melinda Benett, Lê Thị Hiệp, Tony Lathanh
Giải thưỏng liên hoan phim quốc tế : Boston (các giải phim hay nhất, quay phim và nữ diễn viên), Santa Rosa (giải phim đầu tay), Atlanta (giải ban giám khảo), ViFF (giải khán giả).
Tại một tiệm ‘nail’ của người Việt ở California, Brendan, anh thợ sửa xe người Mỹ, đang tìm cách cứu vãn hôn nhân nguội lạnh của mình, tiếp xúc với Tâm, cô thợ làm móng gốc Việt, đang cố hàn gắn tình cảm với người cha đã ngược đãi mình trước đây. Tâm giúp Brendan làm sạch đôi bàn tay nhớp nhúa dầu máy, theo anh là nguyên do khiến cho vợ lạnh nhạt chăn gối, và cô còn chỉ dẫn anh cách sờ chạm, vuốt ve da thịt phụ nữ…

TOUCH (Cham)
Fiction de Nguyen Duc Minh, 2012, 109’
vo anglaise - vietnamienne, sous-titrée en français et anglais
avec Poter Lynn Duong, John Ruby, Nguyen Long
Melinda Bennett, Le Thi Hiep, Tony Lathanh
Primé aux festivals de Boston (meilleurs film, photographie et interprétation féminine), Santa Rosa (prix du premier film), Atlanta (prix du jury), ViFF (prix du public).
Dans un salon d’onglerie vietnamien en Californie, Brendan, ouvrier mécanicien américain qui cherche à sauver son couple, fait la connaissance de Tam, manucure d’origine vietnamienne qui tente, elle, de renouer avec son père. Tam fait plus que nettoyer les mains noires de cambouis de Brendan – cause, selon lui, de la perte du désir chez son épouse –, elle lui montre encore comment toucher, caresser une peau féminine…

15.12 2012 Hoàng Sa, nỗi đau mất mát
(Hoang Sa Vietnam, la meurtrissure)
phim tài liệu của André Menras
2011, 59’, tiếng Pháp.
Cuộc sống của ngư dân Bình Châu và Lý Sơn ở Quảng Ngãi phải đương đầu hàng ngày và một mình với những cuộc tấn công của hải quân Trung Quốc đang chiếm đóng Hoàng Sa và ngăn cấm họ đánh cá gần quần đảo này. Mỗi lần ra khơi, họ không biết là có trở về được hay không.

Phòng mạch của bác sĩ Thi
phim tài liệu của Nguyễn Văn Kỳ
2011, 34’, tiếng Việt, phụ đề tiếng Pháp.
Ở phòng mạch của bác sĩ Thi, những người cao tuổi từng tham gia cuộc chiến Việt - Mỹ ở hai bên chiến tuyến đều đến khám bệnh với những câu chuyện quá khứ và hiện tại. Với họ, kể ra những câu chuyện đó cũng là một cách làm giảm bớt cơn đau.

Hoang Sa Vietnam, la meurtrissure
Documentaire de André Menras
2011, 59’, vo. en français.
La vie des pêcheurs de Binh Chau et Ly Son, dans la province de Quang Ngai, confrontés quotidiennement et seuls aux attaques de la marine chinoise qui occupe militairement les îles Paracels - Hoang Sa et leur interdit de pêcher près de l’archipel. Chaque jour, ils partent en mer, sans savoir s’ils reviendront.

Le cabinet du docteur Thi
(Phong mach cua bac si Thi)
Documentaire de Nguyen Van Ky
2011, 34’, vo. en vietnamien, sous-titrée en français.
Le cabinet du docteur Thi accueille des patients âgés qui ont participé à la guerre vietnamo-américaine des deux côtés. Celle-ci est désormais lointaine, mais les séquelles sont toujours là, et en parler aide à soulager les douleurs.

26.1 2013 Cycle 84 : Nguyễn Trinh Thi

Ái nam ái nữ
phim tài liệu, 2007, 52’, tiếng Việt, phụ đề tiếng Anh.
Xây dựng chân dung của thầy Lưu Ngọc Đức – một trong những cậu đồng nổi tiếng nhất ở Hà Nội -, bộ phim giúp ta khám phá việc người đồng tính nam trong xã hội Việt Nam đầy định kiến, đã tìm thấy cộng đồng và thể hiện mình như thế nào thông qua Đạo Mẫu.

Xuân đến Đông qua
phim thử nghiệm, 2008, 4’.
Sử dụng tư liệu từ đám tang của nhà thơ Lê Đạt, người bị đình chỉ xuất bản trong 30 năm và chịu nhiều hình phạt của chế độ cộng sản trong vụ Nhân văn – Giai phẩm, bộ phim đặt nhiều câu hỏi liên quan tới một vấn đề chính trị văn hóa thuộc lịch sử Việt Nam hiện đại, vẫn bị coi là cấm kị.

Bài ca ra trận
phim thử nghiệm, 2011, 5’.
Từ bộ phim gốc « Bài ca ra trận » của Trần Đắc do Hãng phim truyện Việt Nam sản xuất năm 1973, tác giả đã làm ra một bản dựng mới, đưa đến trải nghiệm khác lạ trên cùng chất liệu hình ảnh.

Biên niên sử cuốn băng bị xóa
phim tài liệu thử nghiệm, 2010, 25’, tiếng Việt, phụ đề tiếng Anh.
Bộ phim ghi lại hành trình của tác giả dọc theo « đường mòn Hồ Chí Minh », nơi quân đội Mỹ đã đổ xuống hàng triệu tấn bom và chất đọc, và hàng vạn người Việt Nam đã thiệt mạng. Bộ phim nỗ lực thu thập một phần lịch sử, những câu chuyện quá khứ từ cư dân địa phương xen kẽ với những hình ảnh của thực tại, hiện thức đan xen với hư cấu.
Jo Ha Kyu
phim thử nghiệm, 2012, 11’.
Jo Ha Kyu vốn là khái niệm cốt lõi trong cấu trúc kể chuyện của các loại hình nghệ thuật truyền thống mang yếu tố thời gian của Nhật. Còn phim Jo Ha Kyu lại giống như một liên tưởng lỏng lẻo về cấu trúc đó, và phản ánh trải nghiệm cá nhân của tác giả tại Tokyo trong một thời gian ngắn sau thảm họa động đất 2011. Một bài thơ về sự xung đột và cộng sinh giữa thế giới cụ thể và trừu tượng, giữa quan sát khách quan và kinh nghiệm chủ quan, giữa tư liệu và hư cấu.
Retrospective Nguyen Trinh Thi
Love man love woman
Documentaire, 2007, 52’, sous-titré en anglais.
A travers le portrait du Maître Luu Ngoc Duc – un des médiums les plus connus de Hanoi –, le film révèle comment les homosexuels, face aux préjugés de la société vietnamienne traditionnelle, ont trouvé un refuge et une expression dans le culte de la Déesse Mère (Dao Mau).

Spring comes Winter after
Film expérimental, 2008, 4’.
En utilisant les images de l’enterrement du poète Le Dat, sanctionné par les autorités communistes dans le procès des Cents Fleurs (Nhan Van - Giai Pham) et interdit de publication pendant 30 ans, le film interroge un problème politico-culturel de l’histoire du Vietnam contemporain, considéré encore aujourd’hui comme tabou.

Song to the front
Film expérimental, 2011, 5’.
A partir du film « Bai ca ra tran » (Le chant du départ au front) réalisé par Tran Dac en 1973 pour les Studios vietnamiens du film de fiction, la cinéaste propose un nouveau montage, une expérience singulière de réinterprétation des images.

Chronicle of a Tape recorded over
Film documentaire expérimental, 2010, 25’, sous-titré en anglais.
Chronique réalisée par la cinéaste le long de la piste Hochiminh, où l’armée américaine a déversé des millions de tonnes de bombes et d’agents toxiques et où des dizaines de milliers de vietnamiens ont laissé leur vie. Le film tente d’assembler des fragments d’histoire, les souvenirs racontés par les villageois alternent avec les images de leur vie actuelle, le passé se mêle au présent, la réalité à la fiction.

Jo Ha Kyu
Film expérimental, 2012, 11’.
Jo Ha Kyu est le concept essentiel de la structure narrative dans les arts traditionnels temporels du Japon. Le film Jo Ha Kyu est une interprétation très libre de cette structure. Il représente une expérience personnelle de la cinéaste à Tokyo peu après le tremblement de terre de 2011. Un poème sur le conflit et la coexistence des mondes concret et abstrait, de l’observation objective et de l’expérience subjective, du documentaire et de la fiction.
2.3 2013 Hai, Tư, Sáu
phim truyện của Nguyễn Hoàng Điệp,
2007, 17’, tiếng Việt, phụ đề tiếng Pháp,
với Cao Thùy Dương, Lê Hồng Quang, Nguyễn Anh Dũng.
Liên hoan phim Cannes, Short film corner 2012, Liên hoan phim ngắn Paris, Courts devant 2012.
Câu chuyện tình ở Hà Nội giữa người vợ, người tình và người chồng. Mối quan hệ diễn ra trong chỉ trong ba ngày, thứ Hai, Tư và Sáu.

Đường nào đi tới biển ?
phim tài liệu của NguyễnVân Anh,
Trần Thanh Hiên, Phạm Mai Phương,
2011, 33’, tiếng Việt, phụ đề tiếng Pháp và Anh.
Liên hoan phim Đông Nam Á Chiang Mai, Lifescape 2012.
Năm cặp phụ nữ đồng tính đã chọn công khai hóa giới tính của mình. Bộ phim về đồng tính nữ đầu tiên ở Việt Nam.

Hai nước Nhật của Phan Bội Châu
phim tài liệu của Phan Đình Anh Khoa
2007, 30’, tiếng Việt, phụ đề tiếng Pháp
Năm 1905, Phan Bội Châu sang Nhật cầu viện và tổ chức Đông Du cho hơn 200 thanh niên. Ba năm sau, Nhật ký hiệp ước với Pháp, chính phủ Nhật giải tán Đông Du, trục xuất Phan Bội Châu. Nhưng có một nước Nhật khác, đã tận tình giúp đỡ Phan và các đồng chí…

Lundi, Mercredi, Vendredi (Hai, Tư, Sau)
Fiction de Nguyễn Hoàng Điệp
2012, 17’, v.o. vietnamienne sous-titrée en français
avec Cao Thuy Duong, Le Hong Quang, Nguyen Anh Dung
Festival de Cannes, Short film corner 2012 - Festival de Paris Courts devant 2012
Lundi, Mercredi, Vendredi : trois jours d’été brûlant à Hanoi dessinent l’histoire d’une épouse, de son amant, de son mari

Quel chemin jusqu’à la mer ? (Duong nao di toi bien ?)
Documentaire de Nguyen Van Anh,
Tran Thanh Hien, Pham Mai Phuong,
2011, 33’, v.o. vietnmienne sous-titrée en français et anglais.
Festival de film de l’Asie du Sud Est, Lifescape Chiang Mai 2011
Témoignages de cinq couples lesbiens ayant choisi de faire leur coming out. Premier documentaire sur l’homosexualité féminine au Vietnam.

Les deux Japon de Phan Boi Chau
(Hai nuoc Nhat cua Phan Boi Chau)
Documentaire de Phan Dinh Anh Khoa
2007, 30’, v.o. vietnamienne sous-titrée en français.
Phan Boi Chau, grand lettré révolutionnaire, venu au Japon en 1905 demander de l’aide, y a fait venir deux cents étudiants, créant ainsi le mouvement du « Voyage à l’Est ». Trois ans plus tard, en collusion avec le pouvoir colonial français, l’Empire nippon a dissous ce mouvement, expulsé Phan et les patriotes. Mais un autre Japon, révélé par cet excellent documentaire, leur a offert aide et protection.

Programmation passablement hétéroclite en mars au Ciné Club YDA du cinéma La Clé : trois courts métrages, de tonalités totalement différentes.
Le premier : Lundi, Mercredi, Vendredi est une courte fiction de la réalisatrice Nguyen Hoang Diep qui s’apprête au printemps à tourner son premier long métrage "Battement d’ailes", sur ce difficile problème de société que représentent les avortements d’adolescentes. Cette jeune femme fait partie des quadragénaires, comme son ami Phan Dang Di, (elle a d’ailleurs produit "Bi, n’ai pas peur") qui veulent faire du cinéma vietnamien international, loin des palanches et des bambous..... Ce sont quelques moments de la vie d’une jolie jeune femme, l’été à Hanoi, entre son mari, homme d’affaires, et son amant, étudiant. Les deux hommes, on les voit à peine. Un bras, un torse, une silhouette, svelte pour l’amant, plus enrobée pour l’époux à lunettes. Fil ténu de scénario : un bouton arraché à la chemise de l’amant se trouvera recousu sur celle du mari.... Images travaillées, cadrages sophistiqués, du très joli cinéma.
Avec Quel chemin jusqu’à la mer, de Tran Than Hien et Pham Mai Phuong, on passe au documentaire. Des couples de lesbiennes témoignent. A propos, savez vous que le premier mariage homo fut célébré, au Vietnam, il y a une vingtaine d’années, dans une petite ville du delta du Mékong ? Deux femmes se présentèrent devant un officier d’état civil avec un exemplaire de la constitution : nulle part, il n’était écrit que les contractants devaient être de sexe différent..... Toutes les instances vinrent pour protester, on sépara les deux effrontées, et la précision salutaire fut apportée à la constitution..... Parmi les couples qui témoignent, l’un est d’ailleurs de cette génération. Le "mari" est impressionnant..... La stature de Teddy Riner, le crâne rasé, conducteur de moto-taxi de profession. Mais la plupart des couples sont formés de gracieuses jeunes femmes qui parlent des difficultés qu’elles peuvent avoir avec leur famille. Une petite grand mère, toute cassée, et pourvue de plus de rides que de dents, déclare : autrefois, c’étaient les parents qui choisissaient, maintenant, chacun choisit sa vie ! Et, finalement, ces familles, dans l’ensemble, elles finissent par accepter....
Le troisième, Les deux Japons de Phan Boi Chau, est un long documentaire historique de Phan Dinh Anh Khoa autour d’un épisode, qui pour nous autres Gaulois, est bien méconnu. Phan Boi Chau était, comme Phan Chau Trinh (le grand père de Nguyen Thi Binh), un lettré engagé dans la lutte contre le colonialisme, et il partit au Japon en 1905 pour y chercher de l’aide. Lettré, il avait étudié Confucius, et c’est par écrit, et en chinois, qu’il put communiquer avec ses interlocuteurs japonais. On se demande bien comment on pouvait exprimer "démocratie", "colonialisme" et "révolution" en idéogrammes confucéens..... C’était le "voyage à l’Est" auquel participèrent deux cent étudiants, mais.... colonialistes de tous pays, unissez vous ! Le Japon qui voulait avoir les mains libres en Corée n’allait pas embêter les français en Indochine ! L’expérience tourna court, Phan et ses élèves furent expulsés. Mais reçurent l’aide d’un japonais humaniste, Asaba Sakitaro, qui est resté cher au coeur des vietnamiens, et le documentaire raconte comment Phan Boi Chau fit ériger une stèle à sa mémoire de cet homme généreux, prématurément disparu, à Fukuroi dans l’enceinte de la pagode Jorin Umeyama.
Phan Boi Chau s’éteignit alors qu’il était en résidence surveillée à Hué quand les japonais envahirent le Vietnam, triste épilogue d’une espérance qui ne s’est jamais concrétisée.
Voilà un petit moment d’histoire opportunément rafraîchi.....
Comme d’habitude, la journée est enrichie par un bon débat autour de la projection. AHLG