le prix remis à Le Thanh Khoi et Philippe Langlet

Dernier ajout : 26 mars 2013.

le jeudi 21 mars, a été remis aux Professeurs Le Thanh Khoi et Philippe Langlet le Prix Phan Châu Trinh par Madame Nguyễn Thị Bình chez Lê Thành Khôi

JPEG - 33.1 ko

PDF - 3 Mo

Texte de Philippe Langlet
Thưa Bà chủ tịch và qúy vị, các bạn thân mến,
Tình cảm động không nói được, và rất tiếc tiếng Việt Nam của tôi chưa đủ !

Respectueusement, madame la présidente de la Fondation Phân Châu Trinh,
monsieur Nguyên Ngoc président du comité du prix Phan Châu Trinh,
et chers amis

Je suis très ému de me trouver ici parmi vous, honoré et heureux d’avoir été choisi comme un des lauréats d’un important prix récompensant le travail pour une meilleure connaissance de la civilisation vietnamienne dans le monde et particulièrement en France. Je remercie les donateurs, et les organisateurs de cette petite cérémonie
Sans long discours, je voudrais évoquer les conditions de mes travaux depuis 1964. La coopération avec des érudits du Sud, et depuis 1982 avec ceux des instituts du Comité des Sciences Sociales, et avec l’université de Hà Nôi, voilà les sources des bons conseils et des encouragements dont j’ai eu bien besoin dans ces études souvent ingrates et difficiles. Je les remercie, et surtout je me réjouis d’avoir pratiqué une étroite et fructueuse solidarité amicale. Réaliser cela avait été le fondement de notre union, de mon épouse Thanh Tâm et moi depuis 1957 : remplacer les souvenirs atroces de la guerre par une rayonnante amitié. C’est elle et sa famille en m’accueillant généreusement, qui m’ont permis d’entrer dans l’intimité de la civilisation vietnamienne.
Et c’est aussi une heureuse émotion de me trouver aujourd’hui à côté de mon premier maître en histoire vietnamienne le professeur Lê Thanh Khôi, que j’ai rencontré assez tard, mais qui m’avait déjà beaucoup appris par son livre en 1955. Je le remercie respectueusement et affectueusement.
Mon choix des recherches et traductions de documents anciens a résulté de plusieurs soucis. D’abord par respect pour la tranquilité de la famille, j’ai renoncé à étudier les problèmes directement contemporains. Surtout, aidé par le livre du professeur Lê Thanh Khôi, je m’étais aperçu que certains des meilleurs historiens français n’avaient qu’une connaissance plutôt confuse du Viêt Nam d’avant les interventions européennes ; il leur était difficile de concevoir un État déjà bien organisé dès le XIe siècle, quand la féodalité divisait ce qui devint la France. J’ai été moi-même étonné de pouvoir observer un réel élan modernisateur au XVIIIe siècle, puis j’ai coopéré volontiers à la « réévaluation » de l’œuvre de la dynastie Nguyễn, qui était un des programmes de l’institut d’histoire qui m’a reçu à Hà Nôi en 1982. Enfin j’étais insatisfait de n’entendre que des chronologies ou des résumés biographiques quand on parlait de civilisation. Dans le calme de ma retraite depuis maintenant 12 années, j’ai donc voulu connaître directement la pensée des anciens maîtres, exprimée en chinois littéraire avant le milieu du XIVe siècle. Après une histoire des origines, comprenant de nombreux textes traduits, mon dernier ouvrage, en cours d’édition, est de philosophie bouddhiste thiền marquée de taoïsme, une présentation et une traduction abondamment expliquée des Propos de Tuê Trung, c’est-à-dire du prince Trân Tung ancêtre de la pensée dans la Forêt des Bambous Truc Lâm, Trân Tung qui vécut entre 1230 et 1291 et fut un des héros de la lutte contre les invasions mongoles.
Tout de même je suis un peu inquiet, madame la présidente : je me suis senti incapable d’aller à Hô Chi Minh ville pour présenter mes respects et mes remerciements. Surtout je pense que mes travaux doivent contenir bien des imperfections si ce n’est des erreurs dans la perception et l’expression de l’intimité vietnamienne. J’y vois une raison de plus de manifester ma profonde reconnaissance pour votre déplacement et pour l’appréciation de mes œuvres.
J’espère pouvoir garder assez de force pour terminer la présentation et l’édition des Propos de Tuê Trung. Jusqu’à la fin, j’agirai pour une meilleure compréhension, et pour l’amitié entre la France et le Việt Nam
Tình bằng hữu và hợp tác của Việt Nam và nước Pháp muôn năm !
Cảm ơn Bà chủ tịch và các bạn ! Je vous remercie.

1 TUỔI TRẺ 26 mars 2013
Bà Nguyễn Thị Bình - chủ tịch hội đồng quản lý Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh - cùng GS Philippe Langlet (bìa trái) và GS Lê Thành Khôi tại lễ trao giải ở Pháp hôm 21-3 - Ảnh : VOV
“Áp lực của sự tin cậy và kỳ vọng” - GS.TS Chu Hảo, phó chủ tịch Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh và giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh, đã phát biểu như vậy khi được hỏi về “áp lực lớn nhất mà hội đồng giải thưởng phải chịu trong quá trình lựa chọn và xét giải” tại cuộc tọa đàm chiều 25-3 xung quanh các tác giả và tác phẩm nhận giải thưởng năm nay.
Bền bỉ cho những chuyển động
Giải Vì sự nghiệp văn hóa và giáo dục năm 2012 (năm 2011 được trao cho ông Nguyễn Sự của phố cổ Hội An) được trao cho bà Bùi Trân Phượng - hiệu trưởng Trường ĐH Hoa Sen, người đã tập hợp được một tập thể sư phạm đa dạng - các nhà giáo cả đời gắn bó với sự nghiệp giáo dục, các nhà doanh nghiệp, các giáo sư quốc tế, Việt kiều, các bạn trẻ say mê nghiên cứu và giảng dạy. Theo GS Chu Hảo, “trong thảm họa giáo dục và tình trạng bi đát của các ĐH ngoài công lập hiện nay, ĐH Hoa Sen là một trong số rất ít ĐH có học phí cao nhưng được xã hội chấp nhận bởi những tư duy mới, tiên tiến về giáo dục và về ĐH cùng những giải pháp cụ thể nâng cao giá trị văn hóa tinh thần của một trường ĐH VN”.
Người cùng nhận giải Vì sự nghiệp văn hóa và giáo dục năm nay là một người còn rất trẻ : Vũ Đức Hiếu - thường được giới mỹ thuật gọi thân mật là Hiếu Mường. Anh sinh năm 1977, là người trẻ nhất nhận giải này cho đến nay. Những gì anh làm được mới chỉ ở giai đoạn đầu tiên của chặng đường dài khó khăn, nhưng chỉ với một Bảo tàng Không gian văn hóa Mường (Hòa Bình) - bảo tàng tư nhân đầu tiên về một nền văn hóa bản địa ít nhất có 10.000 năm tuổi, giám đốc Vũ Đức Hiếu đã xây dựng được một địa chỉ nghệ thuật đương đại bắt đầu được biết đến trong bản đồ nghệ thuật ASEAN, đồng thời góp phần xuất sắc bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc Mường.
Giải thưởng Dịch thuật trao cho dịch giả Phạm Nguyên Trường (bút danh của ông Phạm Duy Hiển) - người đã chuyển ngữ thành công hàng loạt tác phẩm của Heyek, Mises, G. Butler, Mahan... Suốt một thời gian dài lặng thầm miệt mài và kiên định, ông đã đưa đến cho các tầng lớp độc giả VN một khối lượng tri thức vừa hết sức quan trọng, vừa mới mẻ, cập nhật, góp phần vào sự chuyển động của tư duy xã hội, cũng là sự phát triển của đất nước. Giải Dịch thuật cũng đồng thời được trao cho Chu Tiến Ánh - một trong nhiều dịch giả ẩn danh bền bỉ dịch các tác phẩm kinh điển thế giới suốt 50 năm nay. Thành tựu trọng tâm của ông là bộ sách lớn của Edgar Morin, với ba cuốn trong bộ bảy cuốn La methode (Phương pháp).
Cũng như giải Dịch thuật, giải VN học trao cho một tên tuổi rất ít người VN biết đến : GS Philippe Langlet. Bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về lịch sử VN năm 1969, từ đó đến nay ông chuyên tâm dành thời gian và sự nghiệp khoa học của mình cho VN. Công trình nghiên cứu địa bộ của Nhà nước VN 1804-1836 cũng như nhiều công trình khác đưa ông trở thành một trong những tên tuổi hàng đầu trong giới VN học.
Giáo sư Lê Thành Khôi, Việt kiều tại Pháp, được trao giải Nghiên cứu vì những cống hiến nghiên cứu bác học trong quá trình chiêm bái các nền văn hóa từ Đông sang Tây.
Cần trẻ hóa và chuyên nghiệp hóa
GS Chu Hảo cho biết : “Sau sáu năm ra đời và tồn tại, giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh ngày càng nhận được sự quan tâm, ủng hộ và kỳ vọng của xã hội, nhất là tầng lớp trí thức trẻ. Vì thế, mỗi thành viên hội đồng đều ý thức rất rõ điều đó trong quá trình đề cử, lựa chọn, trao giải để đảm bảo trung thành với tôn chỉ mục đích ban đầu của giải thưởng”.
Tuy nhiên, ngoài áp lực về chuyên môn mà ông nói tuy có lo lắng, nhưng ông không thấy nặng nề bằng việc tìm cách nhân rộng tầm ảnh hưởng xã hội của các tác phẩm đoạt giải : “Những tác phẩm kinh điển được dịch công phu, bằng tất cả tâm huyết và trí tuệ nhưng chỉ in được 2.000 bản, trong khi chúng ta có hơn 80 triệu dân. Thật là một nan đề với những người lãnh đạo quỹ. Một phần do tình trạng xuống cấp của văn hóa - giáo dục trong xã hội, phần nữa do khủng hoảng kinh tế, người muốn đọc sách thì không có tiền. Chúng tôi phải tìm mọi cách để có thể duy trì quỹ cho dịch thuật, in ấn cũng như quỹ cho giải thưởng. Nhưng văn hóa mạnh thường quân ở ta ngày càng xa với bản chất ban đầu của nó. Giờ các nhà tài trợ chỉ thích bỏ tiền vào những gì khuếch trương tên tuổi họ trực tiếp nhất, nhanh nhất mà thôi, như hoa hậu và bóng đá chẳng hạn”.
Theo GS Chu Hảo, để tiến tới hoạt động của quỹ một cách chuyên nghiệp và bài bản hơn, như các quỹ văn hóa quốc tế khác, cần có một bộ máy am hiểu về tài chính : vận động tài trợ, đầu tư lấy lãi để lấy tiền dành cho giải thưởng.
Cũng trong tiêu chí đó, ba thành viên của hội đồng khoa học mới được bổ sung theo lời mời của chủ tịch quỹ Nguyễn Thị Bình là TS Nguyễn Kim Sơn - phó giám đốc ĐHQG Hà Nội, TS Nguyễn Đức Thành - thành viên tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, TS Vũ Thành Tự Anh - giám đốc điều hành quỹ Fulbright VN (hai trong ba thành viên là các nhà kinh tế trẻ nổi tiếng) sẽ tạo một luồng gió mới, một sức sống mới cho Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh cũng như giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh - một giải thưởng vốn đã có uy tín với xã hội, nay cần thêm một cách thức mới để chung sống với áp lực của sự tin cậy và kỳ vọng.
Giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh nằm trong khuôn khổ Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh, mang tên nhà văn hóa Phan Châu Trinh (1872-1926), người chủ trương “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Bên cạnh chương trình tài trợ và hỗ trợ dịch thuật các tác phẩm thuộc dự án Tủ sách tinh hoa tri thức thế giới, quỹ có nhiều hoạt động văn hóa khác, đặc biệt là việc khuyến khích, tôn vinh các công trình nghiên cứu văn hóa đặc sắc ; tổ chức phổ biến các giá trị văn hóa VN và thế giới.
Ngoài giải VN học và giải Nghiên cứu đã được trao tại Pháp hôm 21-3 do hai vị giáo sư đoạt giải vì lý do sức khỏe không thể đến lễ trao giải tại VN, các giải thưởng còn lại sẽ được tổ chức trao tại TP.HCM vào tối 29-3.
L.ĐIỀN

2 VOV (La Voix du Vietnam)
http://www.baomoi.com/Trao-Giai-thuong-Phan-Chau-Trinh-cho-2-giao-su-tai-Paris/122/10636390.epi

Trao Giải thưởng Phan Châu Trinh cho 2 giáo sư tại Paris
VOV Online – (22 Mars 2013)
(VOV) -Giáo sư Lê Thành Khôi được trao giải “Nghiên cứu” và giáo sư Philippe Langlet được nhận giải “Việt Nam học”.

Hôm qua, trong khuôn khổ chuyến công tác tại Pháp để tham dự các hoạt động kỷ niệm 40 Hiệp định Paris, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, hiện là Chủ tịch Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh đã trao sớm giải thưởng Phan Châu Trinh lần thứ 6 cho nhà sử học Lê Thành Khôi và nhà Việt Nam học Philippe Langlet. Giải thưởng ghi nhận những đóng góp “trọn đời” của hai giáo sư trong việc nghiên cứu, truyền bá văn hóa Việt Nam với bạn bè Pháp và nước ngoài.

Bà Nguyễn Thị Bình cùng hai giáo sư
Lễ trao giải được tổ chức trân trọng và ấm cúng tại nhà riêng của Giáo sư Lê Thành Khôi tại Paris, với sự có mặt của Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, cùng đoàn Việt nam sang Pháp tham dự các hoạt động kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris ; nhiều cán bộ đại sứ quán Việt nam tại Pháp, gia đình và bạn bè người Việt và người Pháp của Giáo sư Lê Thành Khôi và Giáo sư Langlet, đại diện Hội người Việt Nam tại Pháp và các cơ quan báo chí của Việt Nam tại Pháp.
Tại buổi gặp, Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Chủ tịch Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh đã thông báo kết quả trao Giải thưởng Phan Châu Trinh năm 2012 cho 6 người, trong đó Giáo sư Lê Thành Khôi được trao giải “Nghiên cứu” và giáo sư Philippe Langlet được nhận giải “Việt Nam học”.
Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cho biết : “Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh gồm hội đồng khoa học gồm những nhà khoa học xã hội, nhà văn, nhà nghiên cứu, mỗi năm họp lựa chọn những người đề nghị quỹ tặng thưởng. Chúng tôi đánh giá rất cao sự đóng góp của Giáo sư Lê Thành Khôi đối với văn hóa Việt Nam, Giáo sư Langlet đã có hoạt động giới thiệu văn hóa Việt Nam ra nước ngoài”.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình trao giải thưởng cho Giáo sư Lê Thành Khôi
Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã trao cho Giáo sư Lê Thành Khôi tấm kỷ niệm chương có dòng chữ “Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh trân trọng trao tặng ông Lê Thành Khôi giải về nghiên cứu vì những cống hiến nghiên cứu bác học trong quá trình chiêm bái các nền văn hóa từ Đông sang Tây”.
Giáo sư Lê Thành Khôi năm nay đã 90 tuổi, được đánh giá cao tại Pháp là tác giả của nhiều nghiên cứu căn bản về lịch sử Việt Nam được coi là “mẫu mực”, là cơ sở “soi sáng” cho các nhà sử học, văn hóa học của Pháp khi nghiên cứu về Việt Nam như các cuốn “Việt Nam, lịch sử và văn hóa” (1955), “Lịch sử Việt Nam từ khởi đầu đến năm 1858”...

Giới học thuật ở Pháp đánh giá cao Giáo sư Lê Thành Khôi không chỉ đơn thuần là một nhà sử học theo nghĩa hẹp. Từng bảo vệ luận án tiến sỹ tại Pháp về kinh tế năm 1949, sau đó được phong Giáo sư về giáo dục học tại Đại học Sorbonne Paris, ông đã xuất bản 42 cuốn sách, trong đó giới thiệu cái nhìn về Việt Nam của một nhà dân tộc học, ngôn ngữ học, dịch giả, một “nhà nho” theo đúng ý nghĩa cao đẹp nhất. Năm 2003, ông được nhận Huân chương cao quý về văn học và nghệ thuật của Chính phủ Pháp (Chevalier de l’ordre des Arts et des Lettres).
Xúc động khi được nhận Giải thưởng, ông Lê Thành Khôi nghẹn ngào không nói nên lời và xin phép gọi Nguyên phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình một cách thân mật là “chị” để nhớ lại những ngày ông cùng Hội Liên hiệp Việt kiều và trí thức tranh đấu để ủng hộ phái đoàn Việt Nam đến Paris ký Hiệp định.
“Tôi rất hân hạnh được Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh trao giải thưởng mang tên nhà trí sỹ ái quốc tôn kính, người đã cùng thời với Nguyễn Ái Quốc tranh đấu cho nước nhà được độc lập. Tôi là người đi sau, cũng viết về Việt Nam để người Pháp và người Âu khác biết đến, nhất là từ khi chiến tranh anh dũng của đất nước giành độc lập, tự do, nước ngoài biết đến ta nhiều hơn, phần đóng góp rất nhỏ của tôi cũng lấy làm cho tôi rất là vinh dự” - Giáo sư Lê Thành Khôi nói.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cũng trao tặng giải thưởng văn hóa cho Giáo sư Philippe Langlet về những đóng góp xuất sắc trong việc nghiên cứu, giới thiệu lịch sử, văn hóa Việt Nam ra nước ngoài. Giải thưởng được giáo sư Langlet trân trọng gọi là một “tài sản quý báu” đối với ông và gia đình.

Giáo sư Philippe Langlet nhận kỷ niệm chương
Vị giáo sư người Pháp có hơn 10 năm sống tại Việt Nam bày tỏ : “Tôi xin cảm ơn Quỹ và tôi rất vui khi thấy tình đoàn kết hữu nghị Việt Nam và Pháp đơm hoa kết trái. Tôi nhận thấy sự hiểu biết của nhiều nhà sử học tại Pháp về Việt Nam ở thời kỳ trước giai đoạn thuộc địa còn chưa rõ ràng và tôi rất cảm ơn Giáo sư Lê Thành Khôi, người thầy lịch sử Việt Nam của tôi, đã giúp tôi sáng tỏ nhiều điều qua các cuốn sách của ông. Trong nhiều năm qua, tôi vinh dự được hợp tác với nhiều viện nghiên cứu tại Việt Nam về văn hóa, lịch sử Việt Nam. Tôi mong giữ được sức khỏe để hoàn thành những nghiên cứu còn dang dở của mình, đóng góp thúc đẩy tình hữu nghị Việt Nam và Pháp”.
Trong hàng chục năm qua, nhà nghiên cứu phương đông, nhà Việt Nam học Philippe Langlet đã có nhiều hợp tác nghiên cứu về văn hóa, lịch sử Việt Nam ; dịch nhiều tác phẩm của Việt Nam sang tiếng Pháp, trong đó có dịch cả thơ thiền Việt Nam.
Giải thưởng Phan Châu Trinh chính thức sẽ được trao vào ngày 29/3 tại TP HCM, nhưng được trao trước do hai giáo sư tại Pháp tuổi cao, sức khỏe không đảm bảo để sang Việt Nam nhận giải thưởng.

Quỹ Văn Hóa Phan Châu Trinh năm nay cũng trao tặng Giải Vì sự nghiệp văn hóa và giáo dục cho bà Bùi Trân Phượng (Hiệu trưởng trường Đại học Hoa Sen) và ông Vũ Đức Hiếu, Giám đốc Bảo tàng không gian văn hóa Mường ; Giải Dịch thuật cho các ông Chu Tiến Ánh và Phạm Duy Hiển./.

3 Diễn Đàn le 21 mars 2013-03-26
http://www.diendan.org/viet-nam/le-thanh-khoi-nguoi-anh-ca-cua-chung-toi-trong-dai-hoc

Ngày 21.3.13, Bà Nguyễn Thị Bình, chủ tịch Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh, đã trao giải Phan Châu Trinh lần thứ VI (2012) cho hai học giả Lê Thành Khôi và Philippe Langlet

LÊ THÀNH KHÔI :
NGƯỜI ANH CẢ CỦA CHÚNG TÔI TRONG ĐẠI HỌC

Cao Huy Thuần

Như chúng tôi đã đưa tin, Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh đã quyết định trao giải thưởng 2012 cho các học giả, nhà nghiên cứu, nhà giáo dục và dịch giả : bà Bùi Trân Phượng và ông Vũ Đức Hiếu (giải Vì sự nghiệp Văn hóa và Giáo dục) ; ông Chu Tiến Ánh và ông Phạm Duy Hiển (bút danh Phạm Nguyên Trường) (giải Dịch thuật), giáo sư Lê Thành Khôi (giải Nghiên cứu) và giáo sư Philippe Langlet (giải Việt Nam học). Lễ trao giải sẽ được tổ chức ngày 29.3.2013 tới đây tại Thành phố Hồ Chí Minh. Giáo sư Lê Thành Khôi tuổi cao và giáo sư Philippe Langlet đang phải điều trị trọng bệnh, không thể về Việt Nam nhân dịp này. Chiều ngày 21.3.2013, bà Nguyễn Thị Bình, chủ tịch Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh (bà Bình, như mọi người đều biết, là cháu ngoại chí sĩ họ Phan), đã đích thân tới nhà ông bà Lê Thành Khôi (ở quận 15 Paris) để trao tận tay giải thưởng Phan Châu Trinh cho hai học giả.

Nhân dịp này, và cũng để mừng 90 năm ngày sinh Lê Thành Khôi, Diễn Đàn xin giới thiệu bài viết của giáo sư Cao Huy Thuần.

Cách đây tám năm, chúng tôi có xuất bản một quyển sách dày 465 trang để vinh tặng Giáo Sư Lê Thành Khôi, nhan đề là Từ Đông sang Tây (NXB Đà Nẵng, 2005). Từ Đông sang Tây, trước hết là tiếng tăm của anh Khôi trong cộng đồng đại học, giữa bạn bè người Việt cũng như người nước ngoài, trên khắp thế giới. Từ nhiều đại học ở khắp các châu lục, nhiều bài viết được góp lại như một bó hoa vinh tặng một bậc đàn anh mà tiếng tăm vượt qua đại học Pháp để tỏa sáng trong các tổ chức quốc tế danh tiếng nhất về giáo dục. Từ Đông sang Tây còn mang một ý nghĩa thứ hai, nhắm vào học vấn và công trình nghiên cứu của anh Khôi. Kiến thức của anh trải rộng trên nhiều lĩnh vực, đủ chiều rộng lẫn chiều sâu, để có một cái nhìn vừa bao quát vừa đối chiếu giữa Đông phương và Tây phương.

Có lẽ anh Khôi mang hoài bão bắc một chiếc cầu cho chính anh từ khi đi học giữa Đông và Tây. Có thể hoài bão đó cũng âm ỉ trong lòng tất cả chúng tôi, những người đi dạy và nghiên cứu ở nước ngoài. Nhưng không mấy ai thành công như anh Khôi. Anh Khôi là tiêu biểu. Anh học xong trung học tại Hà Nội. Qua Pháp, anh học luật và kinh tế. Chưa bằng lòng, anh học thêm đồng thời Hán văn và tốt nghiệp trường Sinh ngữ Đông phương. Học luật và kinh tế, anh cũng chưa bằng lòng : anh học thêm chuyên môn luật quốc tế tại Viện luật quốc tế La Haye. Anh là lưỡng khoa tiến sĩ : tiến sĩ kinh tế và tiến sĩ văn chương, ngành khoa học giáo dục. Anh lấy bằng cấp khó khăn ở Pháp dễ như ta lấy đồ trong túi. Và anh để cho chúng ta cảm tưởng rằng anh nghiên cứu cũng dễ như đùa. Bằng chứng là cái thư mục dài dằng dặc của anh trong Từ Đông sang Tây. Thấy mà khiếp ! Trong thư mục đó, kiến thức về Đông phương của anh đã giúp anh viết về những vấn đề văn hóa trong vùng Đông Nam Á cũng như về thơ văn trong lịch sử văn học Việt Nam. Chiếc cầu giữa Đông và Tây hiện ra rõ rệt nhất trong những tác phảm cuối cùng của anh mà tôi sẽ nhắc lại ở cuối bài này.

Bà Nguyễn Thị Bình và các giáo sư Philippe Langlet (trái), Lê Thành Khôi (phải)
Nhưng nếu chỉ nói Đông và Tây sẽ chưa đủ để thán phục sự nghiệp nghiên cứu của anh Khôi. Phải nói cả Bắc và Nam theo ngôn ngữ thông dụng của địa chính trị ngày nay. Khi anh viết về kinh tế, nhất là khi anh viết về giáo dục, về phát triển, cả Á châu, cả Phi châu, cả Nam Mỹ đều nằm dưới ngòi bút của anh. Nằm dưới cả gót chân của anh vì anh là cố vấn cho nhiều vùng, nhiều nước. Anh nhìn rộng trong không gian, anh lại nhìn dài trong thời gian : bởi vì, mở đầu nghiên cứu của anh, anh là nhà viết sử. Quyển Histoire du Viêt Nam của anh là sách đầu tay của tất cả những ai từng nghiên cứu về Việt Nam. Nhìn rộng, nhìn dài, anh Khôi còn không muốn người ta tưởng anh chỉ biết nhìn với cái đầu khô khan của ông giáo. Anh còn nhìn với trái tim trữ tình của anh. Bởi vậy, song song với nghiên cứu, anh còn viết văn, dịch thơ, làm người tình của cái Đẹp, đẹp trong thơ, trong họa, trong thiên nhiên, trong mỹ nghệ. Hình như anh viết truyện La pierre d’amour là để tặng chị : mấy ai ga-lăng đến thế !

Lịch sử, văn chương, địa lý, kinh tế, giáo dục, triết học, mỹ học, nhân chủng học, văn minh... bốn phương tám hướng, hướng nào anh cũng đầy thẩm quyền, biết dùng chữ gì để gọi công trình của anh ? Trong Từ Đông sang Tây, nhà nhân chủng học có tiếng của đại học Pháp, Georges Condominas, gọi cống hiến của anh là một cống hiến "bác học". Tôi nghĩ không có tĩnh từ nào đúng hơn để ngưỡng mộ đóng góp khoa học của anh Khôi.

Trong một công trình "bác học" như vậy, trải rộng trên nhiều lĩnh vực như vậy, tất nhiên không phải bất cứ chỗ nào anh Khôi cũng được sự đồng ý nhất trí của mọi người. Chúng tôi, những người chỉ có kiến thức hẹp hòi trong một lĩnh vực nhất định nào đó, đôi khi cũng có một vài nhận xét khác anh trong lĩnh vực chuyên môn của mỗi người. Thêm nữa, khi anh Khôi nhìn thực tế trước mắt, dường như bút mực của anh không đủ sức thuyết phục như khi anh nhìn vào sách. Chuyện đời trước mắt, nhất là chuyện chính trị, vốn lăng nhăng, mà anh lại là người quá ngay thẳng, quân tử mực Tàu, không quen trí trá. Nhưng, nói cho cùng, đó chẳng phải là bệnh của trí thức, của tất cả chúng tôi, chúng ta ?

Giáo sư Lê Thành Khôi
(ảnh Dominique de Miscault)
Riêng đối với tôi, rất chủ quan, tôi đặc biệt gần gũi với các tác phẩm cuối đời của anh, viết trong khoảng thời gian về hưu. Có lẽ vì đây là các tác phẩm văn chương, trong đó Lê Thành Khôi trữ tình hòa nhập tuyệt mỹ với Lê Thành Khôi trí tuệ. Nhưng, chắc chắn hơn, ở đây Lê Thành Khôi sống trọn vẹn với con người nho sĩ thầm lặng trong anh khi, từ Đông sang Tây, anh học chữ Hán, và khi, suốt đời, anh âu yếm nhìn lại nền văn hóa đã tạo ra anh với cái nhìn từ Tây về Đông, khám phá hơn, khách quan hơn, nhưng cũng minh triết hơn. Tôi học được rất nhiều nơi anh trong những tác phẩm này. Đôi khi, chẳng có gì cả, chỉ một câu, một đoạn, nhưng chân lý vốn thường như thế, chẳng nói gì nhiều. Ví dụ câu này trong Voyage dans la culture du Viêt Nam sau khi anh tả sương mù phủ xuống mái tranh và tiếng chuông chùa nhẹ rơi trong chiều tà :

"Ở đây, chẳng có gì gợi lên nguy nga tráng lệ, kiêu ngạo, chinh phạt hay vinh quang, tất cả dạy ta chừng mực và đơn sơ. Không có lâu đài to lớn đường bệ, không một đền đài danh tiếng nào nhắc lại cho con cháu những kỳ công của tổ tiên và sự có mặt của những vương triều chớp nhoáng. Chùa chiền và cung điện đều được xây dựng bằng gạch và gỗ mà khí hậu ẩm ướt, mặt trời, cây cỏ, và sâu mối dần dần phá hủy. Trong sự vô tư, bất cẩn đó, có một cái gì dường như một cung cách cố ý nhún nhường, một thái độ kính trọng trước cái chết, ý thức về số kiếp của con người, mà những công trình vật chất thì đi qua, mà hiển hách duy nhất nằm trong đầu óc. Ở đây, phép lạ lớn nhất là con người ..."

Nếu những người làm văn hóa ở ta biết rằng cái Đẹp, cái Hồn của ta nằm ở chỗ đơn sơ, khiêm tốn ấy, chắc không ai đua đòi ngây ngô theo cái lớn, cái cao, cái to nơi những văn minh khác. Anh Khôi nhắc lại thêm một lần nữa trong Quelques pas au sud des nuages :

"So sánh các chùa ở Vân Nam với các chùa ở Việt Nam, sự khác nhau đập vào mắt : ở Vân Nam, to lớn, nguy nga ; ở Việt Nam, khiêm tốn, giản dị. Tôi thú nhận tôi cảm thấy rung động hơn với hai đặc điểm vừa nói và với sự hài hòa tỏa ra từ hai đặc điểm đó".

Từ Đông sang Tây, từ Tây về lại Đông, nhận xét của anh Khôi tinh tế trong từng chi tiết không những trong kiến trúc, trong di tích, trong phong cảnh, trong thiên nhiên, trong văn thơ, mà còn trong hội họa, mỹ thuật. Tôi ghi lại ở đây một chi tiết trong Un désir de beauté, khi anh so sánh bức tranh tĩnh vật nổi tiếng của Cézanne với tranh tĩnh vật của Tàu :

"Nơi Cézanne, màu sắc rực rỡ (nguyên tác : "Khi màu sắc phong phú thì hình thể đầy đặn"), màu trắng và màu lục của bình nước đối chọi với những màu đỏ, màu vàng của các trái táo, nét đậm bao quanh các vật đó làm nổi bật vóc dáng của chúng, cách bài trí mạnh mẽ, với đường ngang của chiếc tủ làm thăng bằng đưòng dọc của chiếc hộc và của cánh cửa. Bức tranh "đầy", nhưng chất thơ và vẻ bí mật thiếu vắng. Trái lại, thơ và bí mật hiển hiện cao độ trong các tranh tĩnh vật của Đông Á. Ví dụ danh tiếng nhất là bức tranh Sáu quả hồng của thiền sư Muqi (Mục Khê) (thế kỷ 13) vẽ bằng mực tàu khá đậm đặc, năm quả cùng một hàng, quả thứ sáu đứng một mình đàng trước. Chẳng có gì ngoài cái trống trơn chiếm trọn hơn bốn phần năm không gian. Ở đây, mực tàu chứng tỏ ưu thế trên màu sắc khi muốn gợi lên cái không thấy, cái vô hình".

Giữa Đông và Tây, khác nhau nhất có lẽ là cái nhìn triết lý ấy, trong thơ cũng như trong họa. Chẳng hạn chi tiết này, ít ai để ý :

" Điều mà người ta không bao giờ thấy ở phương Đông là những bức tranh săn bắn đẫm máu thường thấy trong những tranh tĩnh vật của châu Âu ở thế kỷ 17 và 18. Khát vọng giết chóc để mua vui mà những bức tranh đó gợi lên chỉ gây ghê tởm nơi mà Đạo giáo, Ấn Độ giáo và Phật giáo không nhìn con người như là sinh vật cao hơn các loài khác, tất cả đều có thể trao đổi hình dáng trong nhiều kiếp luân hồi, tất cả đều bình đẳng trong luồng sống của vũ trụ. [Trong các tranh Đông phương] các con thú được vẽ với một dáng điệu trìu mến, êm đềm : con hoẵng nằm gãi mũi với chân trong bức Sông Hằng trôi xuống ở Mahabalipuram (thế kỷ 7), con khỉ đang chăm con trong tranh Sosen, con hươu trong tuyết của Rosetsu, mấy chú chó con trong tranh Tetsuzan, con sóc trong Qi Bashi (Tề Bạch Thạch). Con cò trắng hiện ra giữa sương mù trong tranh Tanyu gợi lên một cảm xúc siêu hình. Con khỉ mon men vớt ánh trăng trong nước của Tsunenobu minh họa vô minh trong Phật giáo, lầm cái thấy là cái thực. Một cặp chim, một con ở trong lồng, một con ở ngoài nhìn vào với tất cả trìu mến tượng trưng cho tình nghĩa chung thủy vợ chồng. Chỉ có các con thú dữ là hung tợn, như bất cứ ở đâu : con ó là đề tài quen thuộc của tranh Nhật, con cọp là của Triều Tiên. Nhưng chẳng phải chúng nó cũng có quyền sống sao ? Đâu có phải chúng nó lựa chọn thành ó hay thành cọp ? Chỉ có con người trong Thánh kinh là tự cho mình quyền cai trị trên cá, trên chim, trên muông thú, trên cỏ, trên cây. Bởi vì đã được tạo ra theo hình ảnh Thượng đế của người ấy, con người tự cho mình quyền giết để mua vui ".

Mỗi chi tiết đều lý thú như vậy trong các tác phẩm tôi vừa kể, huống hồ toàn tác phẩm ? Tôi cố ý chỉ nói chi tiết là vì không thể nói hết kiến thức thông thái của anh Khôi trong toàn đại thể. Anh Khôi là nhà chiêm bái trong khắp các nền văn minh. Nhưng nơi chiêm bái cuối cùng của anh lại chính là nơi đã sinh anh ra. Là nơi đã sinh chúng ta ra. Đơn giản, dân gian ta nói : "Lá rụng về cội".

Cao Huy Thuần
Nguyên giáo sư Đại Học Lille và Picardie

Portfolio