Les multiples usages du Moringa oléifera, ou “arbre de vie”

Dernier ajout : 13 novembre 2014.

Les multiples usages du Moringa oléifera, ou “arbre de vie”

1 – Le Moringa oléifera est un aliment extraordinaire
La teneur en vitamines A et C, en calcium, en fer et en protéines du Moringa oléifera est très élevée. Il contient en effet tous les acides aminés essentiels et :
7 fois plus de vitamine C que les oranges.
4 fois plus de calcium et 2 fois plus de protéines que le lait.
4 fois plus de vitamine A que les carottes.
3 fois plus de potassium que les bananes.
Les feuilles et les gousses de Moringa oléifera ont une très haute valeur nutritive. Elles conviennent aussi bien aux personnes âgées qu’aux enfants et sont bénéfiques aux femmes enceintes ou qui allaitent, aux sportifs, aux travailleurs de force... Les personnes âgées profitent beaucoup de leurs vertus antioxydantes qui ralentissent le vieillissement des cellules.
Les graines du Moringa oléifera contiennent 40 % d’une huile alimentaire de grande qualité gustative qui peut en outre être utilisée en horlogerie et en cosmétique.

2 – Le Moringa oléifera et la santé.
C’est une source totalement naturelle de plus de 90 vitamines, mineraux et autres nutriments essentiels incluant les antioxydants multiples et les anti-inflammatoires.
Le Moringa et l’hypertension artérielle : pratiquement tous les nutriments et vitamines dont ont besoin les hypertendus sont présents dans cette plante : calcium, magnésium, potassium, zinc, vitamines dont C et E.
Le Moringa aide les patients diabétiques à contrôler leurs glycémies.
Le Moringa constitue une rare et riche combinaison de zéatine, la quercitine, β-sitostérol, l’acide caféylquinique et le kaempférol. Le Moringa oléifera est très important pour sa valeur médicinale. Toutes les parties agissent comme stimulants cardiaques et circulatoires, possèdent des qualités antitumorales, antipyrétiques, antiépileptiques, anti-inflammatoires, antiulcéreux, antispasmodiques, diurétiques, antihypertenseurs, hypocholestérolémiant, antioxydant, antidiabétiques, hépatiques, antibactériens et antifongiques.
La tradition antique de l’Inde de la médecine d’Ayurveda mentionne 300 maladies traitées avec les feuilles de l’arbre de Moringa.

3 – Assainissement des eaux usées et purification de l’eau.
La pâte, résidu après l’extraction de l’huile des graines, est un purificateur naturel de l’eau (eau potable). C’est une bonne solution alternative pour les zones isolées, insulaires… Le coût d’utilisation des graines ou poudre de Moringa dans le traitement des eaux est très faible. De plus, après traitement, les résidus sont utilisables pour faire du compost.

4 – La culture du Moringa oléifera se prête à l’agroforesterie et à l’agriculture.
L’arbre pousse de 3 à 4 mètres par an et présente donc un grand intérêt pour le reboisement et pour la protection des sols contre l’érosion.
Les premiers fruits peuvent être cueillis au bout de 6 à 12 mois. Un arbre produit entre 400 à 1 000 gousses par an. Un hectare de Moringa oléifera donnera donc dans les 3 tonnes de graines (contre par exemple 2 tonnes pour le tournesol et 0,5 tonne pour les arachides.
Les feuilles sont consommées comme légume par l’homme et servent d’aliment pour le bétail. Les fleurs sont comestibles par les hommes et constituent une bonne source de nectar pour les abeilles.
Le Moringa oléifera “produit” beaucoup de biomasse et contribue à la régénération des sols.

5 – Diverses autres utilisations du Moringa
La pâte peut être utilisée dans la fabrication du papier.
L’huile entre dans la fabrication de savons, shampoings et produits d’entretien. Elle sert également de biocarburant.
Sa sève est un colorant naturel (bleu).

Cette plante mérite bien son nom de “multipurpose tree”. C’est bien la plante des pauvres, notamment quand le taux de malnutrition, de rachitisme et de petite taille est parmi les plus élevé dans le monde, en particulier chez les populations pauvres, les populations des ethnies minoritaires.
Des entreprises vietnamiennes, dans le Sud comme dans le Nord ont investi dans la culture, la transformation du Moringa. Des produits en sont issus : des tisanes, des nouilles précuites, de la poudre prête à consommer pour nourrissons, des cookies… Des nouilles précuites ont été vendues dans les supermarchés danois et allemands.

Nous devons donc espérer que se développe l’esprit d’entreprise, de créativité mais aussi de communication et d’organisation au sein des familles paysannes afin que celles-ci puissent toutes en planter, d’abord pour améliorer la qualité de leur alimentation, mais aussi pour s’enrichir en en faisant le commerce.

L’extraction de l’essence du moringa oléifera pour l’exportation donne à des paysans l’occasion de s’enrichir (modèle de plantation du moringa oléifera dans la commune de Thượng Mỗ, Đan Phượng, Hà Nội)

Cũ nhưng vẫn mới : cây chùm ngây
(tên khoa học : Moringa oleifera)

Nhiều giá trị : dinh dưỡng, dược phẩm, cây môi trường, rau sạch và chống đói, …
Là cây thân gỗ, xuất xứ vùng Nam Á, mọc hoang dã, nhưng cũng được trồng, khai thác nhiều nơi, nhất là tại các nước đang phát triển. Ở Việt Nam, chùm ngây hay ba đậu dại, được phát hiện mọc hoang từ lâu đời tại nhiều nơi như Thanh Hóa, Ninh Thuận, Bình Thuận, vùng Bảy Núi – An Giang, đảo Phú Quốc vv…Trước đây cây ít được chú ý, có nơi trồng chỉ để làm hàng rào.
Với tên là “cây thần diệu” (Miracle Tree), “cây Vạn năng” (Multipurpose Tree), “cây Độ sinh” (Tree of Life),… cây được biết là chứa đến hơn 90 chất dinh dưỡng tổng hợp : 7 loại vitamin, 6 loại khoáng chất, 18 loại axit amin, 46 chất chống ôxi hóa, liều lượng lớn các chất chống viêm nhiễm, các chất kháng sinh, kháng độc tố, các chất giúp ngăn ngừa và điều trị ung thư, u xơ tiền liệt tuyến, giúp ổn định huyết áp, hạ cholesterol, bảo vệ gan. Lá chùm ngây còn chứa nhiều dưỡng chất hơn cả quả và hoa. Được xem là một trong những loại cây hữu dụng bậc nhất thế giới do toàn bộ các phần trên cây chùm ngây đều có thể làm thức ăn hoặc phục vụ các mục đích khác nhau, nên chùm ngây đang được khuyến khích trồng ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt tại những nước nghèo. Rau chùm ngây là thức ăn tốt cho trẻ sơ sinh và bà mẹ mới sinh con. Một nhà nghiên cứu đã công bố rằng “bột lá chùm ngây có tác dụng dinh dưỡng và có thể sử dụng để chống lại nạn đói”.
Cây chùm ngây rất dễ trồng, bằng hạt, hom cành, hom củ và trồng được quanh năm. Cây được trồng nhiều trên những vùng đất khô hạn khắc nghiệt nhiệt đới hoặc bán nhiệt đới. Cây chuộng đất ráo nước, nhiều cát, đất xấu cũng dễ mọc, chịu được hạn hán, ưa nắng, hầu như không có sâu bệnh, việc chăm sóc không cần điều kiện gì đặc biệt về phân bón và nước tưới. Tuy nhiên cây không chịu được úng ngập. Cây chùm ngây có bộ rễ giúp cải tạo chất đất, quả có thể dùng lọc nước, chiết dầu (40%) không kém dầu olive.

Việc chiết xuất tinh chất của cây chùm ngây để xuất khẩu đang mở ra cơ hội làm giàu cho người dân (mô hình trồng chùm ngây tại xã Thượng Mỗ, Đan Phượng, Hà Nội).
Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc thì tỷ lệ suy dưỡng và thiếu vi chất ở trẻ em Việt Nam xếp vào loại cao nhất trên thế giới, còn theo số liệu từ Viện Dinh Dưỡng thuộc Bộ Y Tế Việt Nam thì tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi của thiếu nhi trên cả nước năm 2008 hãy còn ở mức 32,6% trên tổng số trẻ em VN, nghĩa là có khoảng 8 triệu rưỡi trẻ em VN suy dinh dưỡng !

Mặc dù đã đạt được một số tiến bộ, vấn nạn suy dinh dưỡng bà mẹ trẻ em VN vẫn còn nguyên là bức xúc của xã hội , và là trọng trách gắn liền với công cuộc phát triển kinh tế. Các nỗ lực giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em, đặc biệt là thấp, còi là phải tập trung chăm sóc phụ nữ trước, trong suốt thời kỳ mang thai và trẻ em đến 2 tuổi – giai đoạn mà các tổn thương nghiêm trọng nếu có xảy ra không thể hồi phục được .
Trong khi đó, đối với trẻ em từ 1-3 tuổi, chi cần dùng 100gr lá tươi chùm ngây là cung ứng dư thừa lượng Calcium, Vitamine A,75% chất sắt, 50% lượng chất đạm (Protein), và bổ sung đáng kể luợng Potassium, các Vitamine B, chất Đồng, và tất cả acid animo cần thiết trong ngày cho trẻ. Đối với các bà mẹ đang mang thai hoặc đang cho con bú, thì chỉ cần dùng 300 gr lá tươi hoặc 48 gr bột lá khô chùm ngây mỗi ngàylà đủ lượng dinh dưỡng cần thiết hàng ngày cho bà mẹ.
Trong lúc sữa, nguồn dinh dưỡng phổ thông lâu đời không ai chối cãi, lại là thứ nhu yếu xa xỉ, đắt đỏ ở Việt Nam. Tất cả, dĩ nhiên đều không thể thay thế nguồn sữa mẹ, nhưng lại được trọng vọng ở vị trí độc tôn, vô hình chung là nguồn khai thác béo bở cho đầu cơ buôn lậu, cho những tập đoàn lợi nhuận, và do đó tự nhiên, sữa từ lâu trở thành nhu yếu phẩm xa lạ đối với tất cả bà mẹ và trẻ em còi cọc Việt Nam !
Đối với người nghèo, đói, cơ nhỡ, các nhà từ thiện nổ lực giúp được muỗng cháo cầm hơi cho hàng ngàn lượt người nghèo mỗi ngày đã là vô cùng quí hóa, nói chi đến một bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng ?
Trong khi đó, 3 tháng tuổi chùm ngây đã bắt đầu cho thu hoạch, cây cao 60cm bắt đầu cắt ngọn và mỗi tháng sau đó tỉa cành thúc đẩy cây đâm chồi, chăm sóc bón phân, sau 6 thàng tuổi, cây cao khoảng 2 mét, là thời gian bắt đầu thu hoạch chính, trung bình cây đã có thể cho từ 500gr-900gr lá tươi / cây /tháng. Nếu chỉ trồng 5000 cây/ hecta (2m2/cây), sau 6 tháng có thể thu hoạch trung bình 2500kg lá /hecta/tháng, Không mơ ước bán được với giá 70.000đồng/ kg như giá của chi Huỳnh Liên Lộc Thọ ở Xuân Lộc (Báo Đồng Nai 18/5/2008) đang bán, chỉ bán bằng giá như giá rau thông thường 20000đ/kg/ tại chợ thôi, thì thu nhập ròng tại vườn của người trồng cây chùm ngây ít nhất sẽ là 20 triệu đồng / tháng/hecta , sẽ là nguồn thu nhập đầy mơ ước đối với người nông dân Việt Nam hiện nay.
20,000 đồng rau chùm ngây mỗi ngày cung ứng đủ hầu hết lượng dinh dưỡng cần thiết cho một gia đình hai vợ chồng 2 đứa con giải quyết dứt điểm vấn nạn suy dinh dưỡng, cho những người nghèo thiết nghĩ không còn một lựa chọn nào tốt hơn trong lúc này !
Rõ ràng cây chùm ngây, không chỉ là giải pháp độ sinh cho thế giới thứ ba như tổ chức lương thực thế giới (Food and Argriculture Organization) khuyến cáo, mà còn là giải pháp ưu việt cho Việt nam chúng ta, vấn đề là làm thế nào để mọi người dân Việt Nam biết được giá trị của nó, để người nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, để cây chùm ngây trở thành thực đơn hàng ngày trong mỗi bữa ăn , để những nhà sản xuất, chế biến dược phẩm của chúng ta không chỉ có mỗi một lựa chọn là mua nguyên liệu nước ngoài về dập thành viên rồi bán, và làm thế nào để phổ biến những sản phẩm của cây chùm ngây rộng khắp ?
Ở Việt Nam đã có một số người mày mò mở trang trại trồng lấy rau, làm thành bột, trà, mỹ phẩm ở cả miền bắc và miền nam. Chị Phan Thị Tuyết Mai, Tổng Giám đốc một công ty thủy sản đã dành nhiều tâm huyết và chế biến thành công mì ăn liền xuất khẩu sang Đan Mạch, Đức, Nhật Bản, mới đây là Thụy Điển, từ cây diệu kỳ này tạo việc làm cho nhiều nông dân nghèo…
Cho nên, trước tiên , không ai khác hơn là các nhà nghiên cứu, viện dinh dưỡng , cơ quan y tế và lương thực, cơ quan chức năng chuyên ngành, nhà sản xuất kinh doanh, các cơ quan truyền thông, báo đài, dĩ nhiên không thể thiếu vai trò của các trường học cần biết rõ về cây chùm ngây và làm cho mọi người biết về giá trị của nó. Khi chúng ta đang băn khoăn, loay hoay với bài toán tái cơ cấu thì với loài cây đa năng như cây chùm ngây thiết nghĩ chúng ta cần một chính sách để khuyến khích, hướng dẫn, tổ chức kinh doanh loại cây này đáp ứng lại nhu cầu đang có, và vì lợi ích quốc gia biến nó thành cây chống đói, chống bệnh, cải tạo môi trường và cả là cơ hội kiếm tiền từ “thần dược”, từ cây dinh dưỡng chùm ngây.